Acting by folk, if reached by God!

Phần này viết về quan hệ Chính trị – ngoại giao giữa hai nước.

Nhìn Lại Mối Quan Hệ Việt Nam – Thái Lan Trong

Nửa Đầu Thế Kỷ XIX

Có thể nhận thấy rằng mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan hiện nay là mối quan hệ hết sức đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á. Mối quan hệ này không chỉ được thiết lập trong thời hiện đại này mà mối quan hệ đó đã được hình thành từ thời trước kia, nổi cộm lên mối quan hệ đó là vào thế kỷ XIX, mối băng giao từ khi Nguyễn Ánh thiết lập quan hệ với Vua Xiêm. Chúng ta thử xét xem mối quan hệ đó trên các lĩnh vực sau.

I.          Về quan hệ Chính trị – Ngoại giao

Đây là mối quan hệ xuyên suốt trong quan hệ hai nước trong thời gian này, mối quan hệ chính trị – quân sự là điều cốt lõi trong quan hệ hai nước, chính vì lẽ đó quan hệ hai nước cũng có lúc tốt đẹp hòa hiếu, cũng có lúc căng thẳng, và cái nhân tố Chân Lạp, Ai Lao chi phối rất nhiều trong quan hệ hai nước.

1.         Thời Kỳ Trước Vua Gia Long.

Có thể nói rằng quan hệ chính trị ngoại giao giữa hai nước đã được thiết lập từ trước khi Nguyễn Ánh đặt quan hệ ngoại giao với vua Xiêm. Trong mối quan hệ này có lúc phụ thuộc nhau, có lúc quan hệ hai nước bình quyền nhau, quan hệ bình đẳng.

Từ khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát bắt đầu xưng vương. Năm Giáp Tý (1744) đúc ấn Quốc vương, sau đó, ngày Kỷ Mùi, lên ngôi vua ở phủ chính Phú Xuân, ban chiếu bố cáo thiên hạ. Bộ máy chính quyền tư trên xuống cơ sở, các chức danh, tên gọi cũng thay theo: phủ chúa gọi là Điện, đổi chữ “thân” làm chữ “tấu” khi có việc cần bàn với chúa. Tuy nhiên vua Nguyễn vẫn dùng niên hiệu vua Lê trong các văn bản hành chính. Đối với các thuộc quốc Cao Miên, Ai Lao, Xiêm… lại xưng là Thiên vương.

(Trích sách Các Triều Đại Việt Nam)

Với điều nơi trên cho thấy rằng thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát thì các nước Chân lạp, Ai Lao, Xiêm là nhưng nước phụ thuộc vào Đại Việt ta, điều này chứng tỏ sự phát triển, hùng cường của Đại Việt ta kiến cho các nước lân bang phải nể phục.

2.         Quan hệ hai nước có bước phát triển cả về chất và lượng kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi Vua thì quan hệ hai nước trở nên khăng khít, mối quan hệ này hòa hiếu. Mối quan hệ này hòa hiếu này là kết quả của việc Vua Xiêm đã hết tình ủng hộ Nguyễn Ánh trên con đường giành dật Vương quyền tại Đại Việt. Khi Nguyễn Ánh xưng Vương thì triều đình Chakri  của vua Rama I đã phái sứ bộ của mình mang quốc thư cùng với quà để chúc mưng vua Gia Long, và để đáp lễ tháng 2- 1803 vua Gia Long cũng đã cử sứ bộ của mình sang Xiêm giao hiếu và tằng quà cho Vua Xiêm cùng các quan, các tướng đã giúp đỡ Nguyễn Ánh trong thời kỳ trước đó, quà biếu là vàng, bạc, tơ lụa.

Hai nước Xiêm và Việt thường báo tin kịp thời cho nhau về những tình hình quan trọng của mỗi nước như: việc phong vua mới, quốc tang, cầu viện, chiến tranh hay những vẫn đề liên quan tời Chân Lạp và Ái Lao. Có lần đích thân tiếp sứ giả Xiêm để tìm hiều về cuộc chiến giữa Xiêm và Miến Điện. Trong thời kỳ Vua Gia Long nắm vương quyền thì phái bộ hai nước thường xuyên qua lại với nhau.  “Vua Xiêm là Rama I đã 8 lần cử phái bộ sang Việt Nam ( 8-1802; 12-1803; 3-1806; 8-1806; 10-1906; 2-1807; 12-1809; 7-1810), nếu tính đến năm 1813 thì phái bộ Xiêm đã 12 lần sang Việt Nam  và để đáp lại thì Gia Long đã có 4 lần cử phái bộ của mình sang Xiêm ( 2-1803; 2-1807; 5-1809; 12-1809)” và tính đến năm 1813 thì Việt Nam cũng đã 5 lần cử phái bộ sang Xiêm. Ngoài ra còn có những cuộc sứ bộ Xiêm đã lãnh nạn tại Việt Nam khi mà đi sứ tại Trung Quốc.

Tất cả các cuộc viếng thăm này của sứ bộ Xiêm đều được Vua Gia Long tiếp đón  hậu hĩnh, thường thì biếu quà như vàng, bạc, tơ lụa…

Sách Đại Nam thực lục viết “cũng từ năm 1807, để việc trao đổi giữa hai sứ bộ có quy củ và chặt chẽ, vau Gia Long đã sai Bộ Lễ soạn thảo các quy định về số người và lộ trình của sứ bộ hai nước và gửi cho Vua Rama I. .Theo đó, sứ Việt sang Xiêm đi đường thủy là 50 người, đi đường bộ 12 người. Văn thư thì đưa qua nước Chân Lạp chuyển đạt. Sứ xiêm thì đi đường biển đến Gia Định rồi vào kinh; đi đường thủy thì 50 người; đi đường bộ thì 14 người”. Nhưng có tài liệu khác cho rằng con số sứ bộ Việt Nam sang Xiêm đi bằng đường thủy là 50 người còn đường bộ là 12 người còn công văn thì cần đưa cho Chân Lạp để chuyển về Xiêm. Còn sứ bộ Xiêm sang Việt Nam bằng đường thủy thì 50 người rồi cập bến tại Gia Định sau đó cử 14 người đi theo đường bộ tới kinh đô Huế. Lời đề nghị của Gia Long đã được Rama I đơn giản hóa đi con số từ 50 người xuống 5 người và chỉ đưa công văn đến Gia Định rồi nhờ trấn quan sở tại nhận chuyển về  Kinh Đô.

Tháng 6/1817 khi thuyền sứ Xiêm sang tàu, thuyền tấp vào của Đà Nẵng rồi lại bại lửa cháy hết. Vua nghe việc ấy, truyền rằng: “thuyền sứ bị cháy, cũng như thuyền buôn bị nạn” kiến quan dinh Quảng Nam cấp 200 phường gạo và thuyền cho sứ Xiêm.

Tháng 9/1817 khi bên Xiêm có tang vua sai Lễ bộ Thiêm sư Ngô Văn Duyệt, Trần Quang Khải sang sứ nước Xiêm với vật điếu và tặng hảo như: Phật vương 300 cây lụa trắng, thao trắng và 300 cây vải trắng; điếu vua thứ hai 300 cân sáp vàng, 100 cây vải trắng, 300 cân đường phổi và đường phèn, 2.000 cân đường cát. Đến khi sứ ta về, Xiêm đưa thơ, trần tạ và đem các đồ phẩm vật.

(Trích sách quốc triều chánh biên toát yếu)

Với những điều nói trên cho chúng ta thấy được quan hệ thân thiện, hòa hiếu, bình quyền giữa hai vương triều này.

Nét nổi bật trong quan hệ chính trị ngoại giao của hai nước trong thời gian này là về vấn đề Chân Lạp (Campuchia ngày nay), vấn đề Chân lạp cả hai nước vô cung quan tâm, có những lúc cả hai bên đều muốn Chân Lạp phụ thuộc vào mình chứ không muốn phụ thuộc vào đối phương, mà cùng lắm thì cả hai đều là nước bảo hộ Chân Lạp “chính sách chư hầu kép”.

Trong vấn đề Chân Lạp cả hai nước tốn rất nhiều sức người, sức của cho sự tranh giành ảnh hưởng của mình đối với đất nước này. Trong cuộc mâu thuẫn trong Hoàng tộc Chân Lạp giữa hai anh em Ang Chan và Ang Snguon, Ang Chan thì thân với triều Nguyễn còn Ang Snguon thân với Xiêm. Trước tình hình đó cả hai nước đều tham gia vào, cả hai nước đều cho quân đội của mình tham chiến vào cuộc tranh giành quyền lực này, Gia Long sai tướng Nguyễn Văn Thụy đem quân vào Chân Lạp nhưng việc đem quân này hết sức kín đáo và cẩn trọng, còn đầu năm 1812 thì quân Xiêm cũng vào Chân Lạp với số lượng đáng kể được chia làm 5 đạo tiến vào Chân Lạp.

Trước tình hình phức tạp đó, vua Gia Long cho sứ mang thư sang Xiêm trách cứ về hành động của Xiêm và Rama II sai sứ mang thư phúc đáp lại : “ Việc ấy là muốn giảng hòa cho anh em Ang Chan II, chứ không có ý gì. Vậy xin để Việt Nam xử trí thế nào thì Xiên La cũng xin thuận”

(Trích Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim)

Gia Long còn gặp sứ bộ Xiêm và trách: “nước mầy vô cớ đem quân sang đóng đất Chân Lạp, làm cho Nặc Chân(Ang Chan) phải chạy; Chân Lạp đời đời thần phục nước ta, nếu có việc gì, ta cũng phải cứu. Mầy về nói với vua mầy rằng: Nặc Chân rồi cũng trở về, vua mầy chớ dối ta, mà đừng làm lo cho Nặc Chân, thế mới phải nghĩa hậu nước láng giềng, thương nước nhỏ mọn”.

(Trích sách quốc triều chánh biên toát yếu)

Cuối cùng cuộc nội chiến này kết thúc người anh là Ang Chan vẫn nẵm Vương quyền, đồng thời sự ảnh hưởng cảu triều Nguyễn tại đây được nâng cao và đến mức cực độ, Triều Nguyễn tri phối  các vấn đề quan trọng của Chân lạp. Vua Chân Lạp không muốn quan hệ với Xiêm nhưng Gia Long đề nghị Ang Chan phải cử phái bộ sang quan hệ với Xiên và Ang Chan đã nghe theo.

Trong quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam và Xiêm sau sự kiện này cơ bản là tốt đẹp, hòa hiếu. Chính mối quan hệ này là nhân tố chính trị quan trọng trong quan hệ hai nước cũng như việc ổn định tình hình Chân Lạp. Mối quan hệ hòa hiếu này được giữ đến cho khi  Minh Mạng lên ngôi Vua được một thời gian khá dài, rồi nó cũng có sự rạn nứt. sự rạn nứt này nó do những nguyện nhân khách quan và chủ quan, tất cả nó cũng xuất phát từ lợi ích quốc gia và dân tộc đôi khi nó cũng xuất phát từ giai cấp và dòng tộc.

3.         Thời Vua Minh Mạng

Vua Minh Mạng theo lời Vua Cha dặn : “ hãy giữ gìn quan hệ hòa hiếu với nước Xiêm lãng giềng”,  “phải cẩn thận, chớ nên gây hấn ngoài biên”, và “đến như nước Xiêm La, nếu có lỗi nhỏ cũng cần bỏ qua để cùng nhau làm đạo lớn, thì không những là báo nghĩa Tiên để dừng chân ở đấy mây năm, mà còn tránh khỏi mối lo trăm đời của năm kẻ bề tôi lớn ngoài biên”.

Chính vì thế thời gian đâu thì quan hệ giữa hai nước rất tốt đẹp, biểu hiện của nó là việc từ chối khéo lễ vật và lời đề nghị của Miến Điện, Miến Điện muốn cùng triều đình Huế chống lại Xiêm. Vật biếu : 1 tấn vàng, 40 cái nhẫn, 1 hộp trầu sơn son, 1 chuỗi châu bất nhiên, 1 bức mền tơ đỏ, đại hồng ti trừu mỗi thứ hai bức.

Biết được tin đó vua Xiêm là Rama II rất cảm động. Năm 1824 khi Vua Rama II chết, để tỏ lòng thì vua Minh Mạng đã ra lệnh bãi miễn triều 3 ngày. Đây này là sự kiện vô cùng quan trọng, đặc biệt trong quan hệ băng giao của nước ta đối với các nước lân bang.

Tuy nhiên trong vấn đề chính trị, đặc biệt là vấn đền Chân Lạp và Ai Lao thì quan hệ hai nước cũng có lúc trở nên căng thẳng, nhiều khi là trả thù nhau như kiểu “có qua có lại”, không ai chịu nhường ai. Xiêm độc chiếm Ai Lao, còn Việt Nam thì cứng rắn trong vấn đề Chân Lạp.

Vết mực đen trong quan hệ hai nước là vụ loạn của Lê Văn Khôi tại gia Định thì Xiêm lại ủng hộ ngụy Khôi để đã cho quân đội tiến vào lãnh thổ nước ta bằng hai mũi tiến công là đường thủy và đường bộ. Tuy nhiên phần thắng thuộc về Triều Nguyễn.

Sau sự kiện này thì hai nước chấm dứt quan hệ bang giao, bắt đầu thời kỳ căng thẳng, xung đột và chiến tranh giữa hai nước trên đất Chân Lạp từ cuối năm 1833- 1848.

Đến các triều đại sau. Nói chung quan hệ hai nước trong vấn đề chính trị thì trọng tâm của nó là vấn đề Chân Lạp, cả hai nước đều muốn lấn áp đối phương trong quan hệ với Chân Lạp, nhưng rồi không ai thắng ai, từ năm 1841 – đầu 1845 thì Xiên ảnh hưởng lớn tại Chân lạp, với sự kiện quân Nguyễn rút khỏi Phonom Pênh. Đây là sự kiện đánh dấu sự phá sản của chính sách cai trị của Triều Nguyễn còn từ 9-1845 thì Việt Nam có ảnh hưởng số 1 tại Chân Lạp sau khi quân Nguyển chiếm lại Phonom Pênh. Rồi cả ba nước đi đến đàm phán tại Boodin. Nội dung xung quanh những vấn đề sau: ngôi vua của Ang Đuông Chân Lạp và “bề tôi thờ hai nươc” , trao trả tù binh và vấn đề rút quân của hai nước Việt Nam và Xiêm.

Kết quả của cuộc đàm phán này là Ang Đuông làm vua nhưng với điều kiên là phải viết thư với nội dung xin lỗi và chịu tôi vua Nguyễn. Còn vấn đề trao trả tù binh và rút quân thì cả hai bên cùng đồng ý.

Tháng 4- 1848 thì Ang Đuông lên ngôi vua với sự chứng kiến của đại diện hai nước Xiêm, Việt Nam.

Với sự kiện này xét trên khía cạnh nào đó đã chứng tỏ rằng  quan hệ hữu hảo mà Nguyễn Ánh và Rama gầy dựng đã bị sứt mẻ, trong quan hệ hai nước đã có những vết sước mà khó có thể là phẳng được.

Đến các thời vua tiếp theo trong trừng mực nào đó vẫn có quan hệ tốt với Xiêm như : Vua  Tự Đức phê chuẩn việc học tiếng nước ngoài, cho sức làm ngay. Tháng 11 năm Mậu Dần(1878), cùng với sứ bộ sang Xiêm có một số thanh niên do Hồ Khắc Hài dẫn đầu sang học tiếng Xiêm…

Nhưng có lúc thời vua Tự Đức thì quan hệ hai nước xem ra có vẻ không nặm mà cho lắm, sự thiếu thiện cảm lẫn nhau này là nhiều lý do. Việt Nam thì đang có mối lo là chiến tranh, và mặt khác cả hai nước có những mối quan hệ không tốt trong vấn đề Chân Lạp và vùng lãnh hải ngoài khơi, chính vì lẽ đó trong buổi tiếp kiến vua, chính xác là khi các quan Nam Kỳ tâu Vua về công việc của xứ Nam kỳ cũng nhắc tới việc bang giao với Xiêm nhưng với thái độ rất rè chừng : “Còn như khoản giao hòa nước Xiêm, (quan tuần phủ Nguyễn Tường Vĩnh xin giao hỏa với Xiêm) thời xét ý Xiêm vẫn muốn giảng hòa, nhưng chưa có mối manh rõ ràng, xin chờ xét kỹ sẽ tâu. Ngài nghe theo”.

Với những điều nói trên trong mối băng giao giữa Việt Nam và Xiêm đó là mối quan hệ bình quyền, hào hiếu, bình đẳng. Mối quan hệ này có lúc tốt đẹp nhưng có những lúc mây thuẫn nhau nhiều khi còn xẩy ra chiến sự. Ngay trong thời Gia Long  nhiều lúc mối quan hệ thật sự cũng không tốt, như vua Minh Mạng đã nhận xét: “ không được nhã”. Rồi đến cuối những năm cuối của thế Kỷ XIX thì mối quan hệ Việt Nam và Xiêm xét ở góc độ nào đấy nó cũng không được nồng ấm vì Việt Nam đang phải lo chống đỡ trước sự xâm lược của liên quân Pháp Và Tây Ban Nha bắt đầu nổ ra tại Đà Nẵng vào rạng sáng ngày 1-9-1858.

Tháng 7/ 1860 trước khi vào Nam kỳ nhận chức, Nguyễn Tri Phương đã mật tấu lên Tự Đức 6 việc, việc thứ 5 “xin kết hiếu với Xiêm” và lời đề nghĩ này được vua chấp thuận. Đến tháng 2/1866 quan tướng Xiêm đã đưa thư tới trình; Quan cơ mật tâu xin phái người qua lại, để tỏ tình thân thiện, còn thuyền Xiêm như cí đến buôn, xin khoan các điều cấm ước… và Vua đã chấp thuận.

Tháng 11/1878 Vua cho Nguyễn Hiệp làm chánh sứ qua Xiêm. (vì tỉnh Nghệ An có sai Cao Bỉnh Tâm qua Trấn Ninh, bị binh Xiêm bắt lầm, Xiêm khoản đãi đưa về, đến đây lại đưa thơ xin hòa hảo như cũ, nên ta khiến sứ qua ). Đến tháng 5/1879 Nguyễn Hiệp đi sứ về nhà Vua cũng hỏi  về tình hình nước Xiêm và ban thưởng cho những người đi sứ.

Với những lần bang giao trên thời Từ Đức thì ta nhận thấy rõ các chuyến  thăm viếng lẫn nhau cũng thưa dần, nhưng dù sao cả hai bên đều muốn bang giao qua lại với nhau, với mục đích hòa hiếu và giữ chọn cái tình mà các vua trước đã để lại, mặt khác các quan và Vua nhà Nguyễn cũng muốn nhìn vào Xiêm để thoát khỏi cái “ảnh hưởng qúa mức” của Phương Tây.

Ngoài ra về  mặt ngoại giao – chính trị thì hai nước cũng liên quan đến việc phân định lãnh thổ, đến thế kỷ XIX chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ đã chính thức được các nước láng giềng, trong đó có cả Cao Miên thừa nhận trong các văn bản có giá trị pháp lý quốc tế. Tháng 12 năm 1845, ba nước An Nam, Xiêm La (Thái Lan) và Cao Miên ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam. Năm 1846, một Hiệp ước ký giữa An Nam và Xiêm La có nhắc lại điều đó và Cao Miên sau đó cũng tham gia vào Hiệp ước này. Trong phần mở đầu của Hiệp ước bí mật giữa Xiêm La và Cao Miên ký ngày 01/12/1863 nêu rõ: “ Cao Miên nằm giữa các lãnh thổ Xiêm La, Nam Kỳ và các vùng đất thuộc Pháp”. Như vậy là chậm nhất đến năm 1845-1846, các nước láng giềng với Việt Nam đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam.

Trong thời gian có chiến tranh xẩy ra giữa ta và Pháp thì việc chúng ta cũng quan tâm đến việc phân định ranh giới giưa nước ta và các nước lãng giềng trong đó có Xiêm. Sách quốc triều chính biên toát yêu viết: “ Năm Ất Hợi thứ XXVIII(1875), tháng giêng, kiến bộ binh tư tưởng ra tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình đều vẽ địa đồ các miền thượng du chỗ châu, phủ mọi thỏ, đến các nơi tiếp giáp. (Như là sông Khung, Nam Chưởng, Vạn Tường, Xiêm La, Ái Lao, Tàu…), vẽ cho kỹ, chú cho rõ những tên núi sông và đàng xá xa gần, đệ vẽ tấn lãm”.

Nói tóm lại quan hệ ngoại giao – chính trị giữa Việt Nam và Xiêm trong thời kỳ này là mối quan hệ hết sức đặc biệt, mối quan hệ này có nhiều biến động, nó có những thăng trầm theo thời gian và theo tiến trình của lịch sử.

Đức Vượng

Comments on: "Nhìn Lại Mối Quan Hệ Việt Nam – Thái Lan Trong Nửa Đầu Thế Kỷ XIX (Phần I)" (1)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: