Acting by folk, if reached by God!

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một thắng lợi chiến lược của ta, đồng thời cũng là một thất bại chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tới nay, 30 năm trôi qua, các nhà sử học, các nhà quân sự Việt Nam và Mỹ đã có nhiều điều kiện hơn để đánh giá chính xác vị trí của thắng lợi ta và thất bại này của Mỹ. Hầu hết những đánh giá, tổng kết chiến tranh của ta và Mỹ từ 1975 đến nay về căn bản là có sự nhất trí lớn về ý nghĩa chiến lược của cuộc tổng tiến công và nổi dậy lịch sử xuân 1968. Nhà sử học nổi tiếng của Mỹ về chiến tranh Việt Nam Gabriel Kolko đã viết: “Cuộc tiến công Tết 1968 là sự phát triển phức tạp và quan trọng nhất của chiến tranh Việt Nam” (1), “Cuộc tiến công đã đem lại tất cả những quá trình này đến đỉnh điểm và theo quan điểm này Cách mạng đã đạt tới một lợi thế quyết định trong toàn bộ cuộc chiến đấu của họ” (2)

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là kết quả của một quá trình phá sản của các chiến lược chiến tranh thực dân mớI Mỹ, đặc biệt là các chiến lược chiến tranh của Đảng Dân chủ Mỹ áp dụng vào Việt Nam. Một trong những vấn đề có tính quy luật trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta là hầu hết các kẻ thù xâm lược thường rất chủ quan khi đánh giá và do đó không đánh giá được hết chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và khả năng chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta. Thời kỳ 1960 – 1968, Đảng Dân chủ lên cầm quyền ở Mỹ, có cái nhìn rất “lạc quan” về chiến luợc đối phó với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Họ đã đưa ra học thuyết “Phản ứng linh hoạt” (“Flexible Response”) vớI ba loại chiến tranh, trong đó “Chiến tranh đặc biệt” (“Special War”) và “Chiến tranh cục bộ” (“Local War”) là hai loại “Chiến tranh hạn chế” (“Limited War”), chĩa mũi nhọn vào phong trào giải phóng dân tộc mà Việt Nam là nơi thí nghiệm đầu tiên. Đi theo lý thuyết “leo thang chiến tranh” (“escalation of war”), tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh quân sự, sau khi thất bại trong “chiến tranh đặc biệt”, Johnson đã quyết định leo nấc thang cao nhất: “Chiến tranh cục bộ”, nhằm “tìm lấy một thắng lợi về quân sự” (“seeking a military victory”) bằng cách sử dụng những lực lượng quân sự khổng lồ với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ (trừ vũ khí hạt nhân”. Tư tưởng cơ bản của Johnson là “Chiến tranh tiêu hao” (“War of attrition”), nghĩa là với hoả lực tối đa, áp đảo của Mỹ, cách mạng Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là đầu hàng vô điều kiện. Hai gọm kìm “Tìm – diệt” (“Search and destroy”) và “Bình định nông thôn” (“Rural pacification”) của “Chiến tranh cục bộ” mà chủ yếu là gọng kìm “Tìm – diệt” với hai cuộc phản công Chiến lược mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967. Cuộc “Chiến tranh phá hoại” (“War of destruction”) ở miền Bắc (1965 – 1968) cũng không phải là cuộc chiến tranh riêng biệt, mà chỉ là một bộ phận phối hợp của Chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Việt Nam. Tướng Westmoreland luôn tin tưởng rằng, chừng nào tổn thất của “đối phương” còn lớn hơn tổn thất của “đồng minh” thì cuộc chiến tranh cuối cùng rồi sẽ thắng (3). Vào tháng 1 năm 1968, trong cơn tuyệt vọng, Westmoreland đã kêu gào dùng “hạt nhân chiến thuật”: “Có khả năng khác ở Khe Sanh: vũ khí hạt nhân chiến thuật…Nếu các quan chức Washington có ý định gởi một thông điệp cho Hà Nội chắc chắn là những vũ khí chiến thuật nhỏ sẽ là cách để nói với Hà Nội điều gì đó, giống như hai quả bom nguyên tử đã nói một cách thuyết phục với các quan chức Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai.. Tôi cảm thấy lúc này… mà không xem xét khả năng lựa chọn đó là một sai lầm.” (4)

Thất bại của Mỹ trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 và nhất là cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai 1966 – 1967, trong đó tiêu biểu nhất là ba cuộc hành quân lớn Attleboro, Cedar Falls và Junction City, cho thấy sự phá sản sâu xa trong quan điểm chiến lược chiến tranh của Mỹ. Henry Cabot Lodge trước khi về hưu (4 – 1967) đã nhận xét khá đúng về sự thất bại của chiến lược chiến tranh của Mỹ: “Westmoreland đang áp dụng chiến thuật thời chiến tranh thế giới thứ hai đối phó với một cuộc chiến tranh du kích hiện đại và ông ấy không có khả năng kết hợp những biến đổi chính trị vào trong tư duy chiến lược của mình” (5). Cho đến nay, qua nhiều tác phẩm, nhiều hội nghị khoa học về chiến tranh Việt Nam, hầu hết các nhà sử học Mỹ đều nhất trí rằng, chiến lược chính trị và quân sự của Mỹ đã thất bại trong việc đối phó lại cuộc chiến tranh nhân dân ta. Điều mà giới khoa học, cựu chính khách, tướng lĩnh Mỹ còn phải tranh luận nhiều là nguyên nhân thất bại nằm ở chỗ Mỹ đã “không áp dụng (V. V. S nhấn mạnh) những nguyên tắc lý thuyết quân sự cổ điển hay đã áp dụng những nguyên tắc sai lầm (V. V. S nhấn mạnh)”, khi đối đầu với “loại chiến tranh” đã diễn ra ở Việt Nam (6). Robert Thompson, chuyên gia “chống nổi dậy”, cha đẻ của mô hình “Ấp chiến lược” (“Strategic hamlet”) đã từng sử dụng trong “Chiến tranh đặc biệt”, đã phê phán nặng nề chính sách của Johnson Westmoreland: “Chính sách của Mỹ ở Việt Nam là ngu đần. Nó nhân đôi hoả lực và làm phình to lỗi lầm. Mỗi viên đạn pháo mà Mỹ bắn vào Nam Việt Nam có thể (V. V. S nhấn mạnh) giết được một Việt cộng nhưng chắc chắn (V. V. S nhấn mạnh) sẽ làm cho nông dân Việt Nam xa lánh họ”(7). Trong hội nghị khoa học quốc tế “Chiến tranh Việt Nam, nhìn từ phía Mỹ và Việt Nam” ở Đại học Columbia (Mỹ) vào mùa Thu 1990, Ronald H. Spector đã nói đến một mâu thuẫn lớn về quân sự của Mỹ là mâu thuẫn giữa tập trung quân và phân tán quân, giống như người Pháp trước đây đã mắc phảI ở Đông Dương: “Quân đội Mỹ có ưu thế về hoả lực có bộ máy chiến tranh tinh vi hơn, nhưng quân Mỹ bị trói buộc vào mọi nơi bởi sự cần thiết bảo vệ những căn cứ và cơ sở mà họ đã thiết lập trên khắp miền Nam” (8). Trong tác phẩm nổi tiếng “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” (Anatomy of a War), Gabriel Kolko đã chia sẻ những quan điểm với H. Spector: “Điều mấu chốt để Đảng Cộng sản nắm giữ thế chủ động chiến lược là khả năng của họ giữ cho quân Mỹ và quân đội Nam Việt Nam bị phân tán” (9). James Harpus đã cho rằng từ cuối năm 1966 trở đi Westmoreland đã thất bại trong ý đồ buộc quân ta phải thường xuyên chiến đấu với Mỹ ngụy và ta vẫn tiếp tục ác dụng chiến lược quân sự của ta (10). Biện pháp chiến lược “Tìm – diệt” được một nhà báo chiến trường nhận xét sâu sắc rằng, chiến lược của Westmoreland “như đang dùng búa đập vào nút bần trên mặt nước. Bằng cách này cách khác nút bần vẫn tồn tại” (11). Trên chiến trường, quân ta hoàn toàn ở thế chủ động tiến công. Một công trình nghiên cứu của M. A. C. V (Cơ quan Chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ ở Việt Nam) cho thấy: “Chỉ 1% những cuộc phản công “Tìm – diệt” của quân Mỹ vào nông thôn là gặp được kẻ địch, còn trong 85% những cuộc chiến đấu thì đối phương là người khai hoả đầu tiên” (12). Một công trình nghiên cứu khác đã khảo sát 68 cuộc giao chiến của Mỹ và ta trong hai năm từ tháng 10 – 1996 đến tháng 5 – 1968 và rút ra kết luận rằng 68% các cuộc giao chiến là do quân ta mở đầu (13).

Thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm phá sản đúng lúc “Chiến lược chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ phải “xuống thanh” (de – escalate) chiến tranh ngay lúc nó leo thang cao nhất, làm Mỹ chuyển từ chiến lược tiến công (“Tìm – diệt”) sang chiến lược phòng ngự, buộc Mỹ phải hạn chế ném bom để rồi ngừng hẳn việc ném bom ở miền Bắc và bước vào bàn hội đàm Paris với ta. 15 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhà sử học David W. P. Elliott đã nhất trí với ta về Chiến thắng của mùa xuân 1968: “Trong năm 1968 cuộc tiến công Tết Mậu Thân đã đánh dấu sự thất bại của Chiến tranh cục bộ, một sự lựa chọn nhằm chiến thắng bằng thắng lợi quân sự trực tiếp của Mỹ ở Việt Nam, và buộc phải chọn lựa giữa rút quân leo thanh chiến tranh xa hơn ra khỏi biên giới của Việt Nam với những nguy cơ và chi phí kèm theo mà tổng thống Johnson trước đó đã tìm cách lẩn tránh” (14).

Sau thất bại của cuộc hành quân Junction City, “cuộc hành quân lớn nhất, đỉnh cao nhất về tập trung lực lượng phương tiện chiến tranh của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam” (15), cùng với sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, bước vào mùa mưa 1967 Mỹ đã lùi dần vào thế phòng ngự và đã ở vào “tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược” (16). Thế nhưng, thắng lợi đó chưa đủ sức làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, chưa thể buộc Mỹ phải “xuống thanh” chiến tranh. Dù lực lượng của kẻ thù còn khá mạnh, ta còn một số nhược điểm lớn, nhưng ta vẫn đánh giá một cách đúng đắn tình hình: “Điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi. Địch đang ở thế thua thế bị động và khó khăn” (17). “Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn” (18). Trên cơ sở đó Đảng ta quyết tâm “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định” (19).

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 cùng diễn biến lịch sử sau đó đã chứng minh rằng sự lựa chọn chiến lược đó là cực kỳ nhạy bén, táo bạo và chính xác. Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, quân ta đã có những nỗ lực thần kỳ và nét nổi bật nhất là đã tạo ra được sự bí mật, bất ngờ cao độ về cả hướng tiến công chính, thời điểm, quy mô, cường độ và chiến thuật tiến công. Ngày 21 – 01 – 1968 khi ta đã mở những đợt pháo kích mạnh ở Khe Sanh thì Lyndon Johnson, Westmoreland đang vui mừng hy vọng ta “sa vào bẫy Khe Sanh” của chúng. Thế nhưng, hướng chính của cuộc tiến công quân sự mùa Xuân 1968 là các thành thị mà chiến trường trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định và Trị – Thiên – Huế, sào huyệt của kẻ thù. Cả bộ Tổng tham mưu Ngụy, Bộ Tư lệnh quân Mỹ và bộ máy CIA dày đặc hoàn toàn bất ngờ. Mặc dù tình báo của Mỹ có ghi nhận sức người, hàng hoá cung cấp di chuyển trên “đường mòn Hồ Chí Minh” có gia tăng hơn trước nhưng chúng vẫn nghĩ rằng điều đó là nhằm phục vụ cho chiến trường Khe Sanh. Một nửa ngụy quân đang nghỉ Tết (20). Sự bất ngờ này chẳng những đem lại cho ta những thắng lợi quân sự to lớn trong đợt tiến công Tết Mậu Thân mà còn góp phần “nhân đôi” ảnh hưởng chính trị và ngoại giao của cuộc tổng tiến công, làm rung động Toà Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và nhân dân Mỹ. Cảnh Westmoreland tuyên bố “chiến thắng” ngay trong toà nhà Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, nơi được coi là “An ninh nhất”, sau cuộc tiến công của ta và hình ảnh tên tướng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan “Bắn Việt cộng trên đường phố Sài Gòn” đã trở thành “biểu tượng của cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân” (“symbols of the Tet Offensive”) trước dư luận Mỹ!

Dù cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân có những khuyết điểm và yếu kém như là không thể tiêu diệt một lực lượng vũ trang lớn của kẻ thù và những lãnh đạo cao cấp của chúng, chưa tạo được sự nổi dậy của quần chúng, có những tổn thất lớn về nhân lực… thế nhưng, những hạn chết ấy hông thể nào che lấp được những thắng lợi chiến lược của cuộc tổng tiến công và nổi dậy này. Staley Karnow, trong quyển sử “Việt Nam – Một lịch sử”, đã nhắc lại ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, mà tác giả cho là nhà kiến trúc chính của cuộc tổng tiến công và nổi dậy 1968, về việc cần phải hiểu chiến lược của ta một cách tổng hợp, cả về quân sự, chính trị và ngoại giao (21) và sau đó đưa ra một nhận xét khá sâu sắc: “Trong tính toán của ông Giáp, ngõ cụt biệt đãi những người Cộng sản. Mỹ không thể leo thang chiến tranh mà không tính đến sự bổ sung nhân lực và vật lực, không thể nâng sự đầu tư của Mỹ mà không cắt giảm trách nhiệm phòng thủ toàn cầu và những chương trình kinh tế – xã hội của họ. Cuộc tiến công Têt không có ý định là một hồi trong cuộc chiến tranh lâu dài “năm năm, mười năm hay hai mươi năm”. Về thực chất, Ông Giáp đang lập lại với Mỹ cái mà Hồ Chí Minh đã cảnh báo với người Pháp một thế hệ trước: “Anh có thể giết mười người của tôi so với một người của anh bị giết. Nhưng ngay cả chên lệch như thế, anh sẽ thua và tôi sẽ thắng” (22). Không phải vô cớ mà vào tháng 3 – 1968, ngay sau đợt tổng tiến công đầu tiên của ta, Mỹ đã có sự thay đổi hẳn chiến lược chiến tranh.

Có thể nói rằng nếu Mỹ không bị thất bại chiến lược trong mùa xuân 1968 thì khó lòng Mỹ bị thất bại chiến lược trong năm 1972 và sự đại bại hoàn toàn trong mùa Xuân đại thắng của ta – 1975. Càng đọc nhiều tài liệu, nhất là những tài liệu của Mỹ, ta lại càng thấy rõ hơn tầm vóc to lớn của chiến thắng của ta và thất bại của Mỹ trong mùa Xuân 1968.

THE 1968 GENERAL OFFENSIVE: THE STRATEGIC COLLAPSE OF THE U. S

VO VAN SEN

From the viewpoint grounded the concepts of the Vietnamese revolutionary war and the U. S document, through the process of preparation and the victory of Vietnam over the US during the General Offensive, this article examines some main characteristics, some basic reasons for the strategic collapse of the US in Vietnam War. These findings are considered as one of the significant contributions to historical study on the 1968 General Offensive in history of Vietnam.

CHÚ THÍCH

(1), (2) Gabriel Kolko, Anatomy of a War. NXB Pantheon Books, New York, 1985, tr. 303, 305.

(3), (4) Giôdép A – Amtơ – Lời phán quyết về Việt Nam. NXB Quân đội nhân dân, HN, 1985, tr. 227, 218 (bản dịch củ Nguyễn Tấn Cưu).

(5) James Olson and Randy Roberts, Where the Domino fell:  American and Vietnam 1945 – 1975. NXB ST Martin’s Press, New York, 1996, tr. 169.

(6) Xem George R. Vickers, “US. Military Strategy and the Vietnam War”. Trong sách Faynes S. Werner, Luu Doan Huynh (Edited), The Vietnam War: Vietnamese and American Perspectives. NXB M.E Sharpe, New York, 1993, tr. 113.

(7) James S. Olson, sđd, tr. 170.

(8) Ronald H. Spector, “How do you know if you are Winning?” : Perception and Reality in America’s Military Performance in Vietnam 1965 – 1970, Jaynes S. Werner, Luu Doan Huynh, sđd, tr. 152 – 153.

(9) Gabriel Kolko, sđd, tr. 176.

(10) Xem James Harpus: War without End – Conflict in IndoChina. NXB Longman Chesshire, 1990, tr. 64.

(11), (12) Jame Olson, sđd, tr. 161.

(13) Ronald H. Spector, sđd, tr. 155.

(14) David W. P Elliott, Hanoi’s strategy in the Second Indochina War, sđd, tr. 77.

(15) Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954 – 1975). NXB Chính trị quốc gia, HN, 1995, tr. 355.

(16), (17), (18), (19) Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), tháng 1 – 1968. Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, sđd, tr. 387 – 388.

(20) James S. Olson, sđd, tr.  184.

(21) (22) Stanley Karnow, Vietnam, A History. NXB Penguin Books, New York, 1983, tr. 548 – 549.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: