Acting by folk, if reached by God!

Gia Tài Công Giáo

Chương 1: Các Tử Đạo

Các Cuộc Bách Hại của La Mã

Nguyên ý niệm “Kitô giáo sơ khai” cũng đủ tự nhiên phát sinh trong ta hình ảnh La Mã bách hại và việc tử đạo của Kitô hữu. Ðược nuôi dưỡng bởi truyền thống tiểu thuyết thế kỷ 19 (như Ben Hur, Quo Vadis, Fabiola…), nhiều người trong chúng ta lập tức quay về với những hình ảnh hùng vĩ của điện ảnh, và nghệ thuật tôn giáo bình dân dựa trên lịch sử sai lầm, nên có khuynh hướng nghĩ rằng thời kỳ này là thời kỳ đầy những hoàng đế man rợ (maniac), những cô gái thở vắn than dài (sighing maidens), những đám đông quần chúng vô tâm độc ác chỉ tay xuống đất phản đối, và bày sư tử đói thịt người. Những hình ảnh bình dân này đôi khi được thêm mắm thêm muối bằng cách vẽ các cô gái thở vắn than dài kia thành những người được các chàng bách quân đội trưởng ngoại đạo nhưng đáng yêu tôn thờ hứa hẹn nếu chịu dâng hương trước bàn thờ thần minh La Mã, các cô sẽ được cả thế gian. Lẽ dĩ nhiên các cô không chịu. Trong cái bối cảnh một tình yêu không thành ấy, các Kitô hữu khác phải ẩn núp trong các hang toại đạo dưới đất, chỉ nhận được ra nhau bằng những dầu hiệu bí mật (trong phim ảnh, thường là hình con cá vẽ trên cát), và gọi nhau phần đông là “anh” là “chị”. Các Kitô hữu trong các phim này thường là những người tốt lành quá lẽ và nếu cần biết sự thực, thì đều không có gì thích thú như các kẻ hành tội họ. Những cảnh về Caligulas luôn làm người ta say mê; ai có thể cưỡng lại một chính khách từng biến con ngựa yêu thích của mình thành một thượng nghị sĩ?

Thật rất khó có thể rũ bỏ cái mờ ảo của thứ chân lý nửa vời, của việc thông tin sai lạc, và hoàn toàn tưởng tượng ấy. Các du khách viếng thăm Rome vẫn còn được các hướng dẫn viên cho biết các Kitô hữu tiên khởi sống trong các hang toại đạo và các ngôi mộ trong hang toại đạo chứa thi hài các đấng tử đạo.

Ta cần phải cắt bỏ những khía cạnh thơ mộng và dã sử để thực sự hiểu các tử đạo tiên khởi. Dưới nhiều khía cạnh, họ biểu tượng như những gạch nối dẫn ta tới những kinh nghiệm của những người kiên cường nhất trong các Kitô hữu ngày nay. Hiểu các tử đạo tiên khởi là hiểu một trong những hình thức cổ xưa nhất và dai dẳng nhất trong việc làm chứng nhân tôn giáo.

Một sự kiện căn bản cần phải hiểu về cuộc sống Kitô giáo trong Ðế quốc La Mã là: các Kitô hữu phải chịu đau khổ và chết vì đức tin của mình. Ðó là điểm khởi hành của chúng ta. Khoảng 50 năm sau khi sự việc đã xẩy ra, sử gia La Mã Tacitus (a.d. 54-119) viết những giòng sau về hoàng đế Neron, người có mưu toan thiêu hủy thành La Mã vào tháng Bẩy năm 64:

“Ðể dẹp tin đồn, Neron kết án và độc ác trừng phạt những người mang danh Kitô hữu, là những người bị khinh ghét vì các thực hành xấ xa của họ. Người sáng lập ra giáo phái này là Christus từng bị Tổng Trấn Pontius Pilate xử tử dưới triều Tiberius. Có lúc thứ mê tín xấu xa này đã bị dẹp bỏ, nhưng chẳng bao lâu sau lại bừng sống lại không những chỉ ở Judea là nơi nó phát sinh mà còn ở cả La Mã nữa, là nơi bọn người xấu xa đáng giận này lui tới sinh sống và phồn thịnh. Trước hết, những ai tuyên tín đều bị bắt và rồi, theo lời của họ, số rất đông bị kết án, không hẳn vì tội cố ý phóng hỏa cho bằng vì đã thù ghét nhân loại.

“Họ bị chế nhạo khi chết. Một số bị khâu vào da thú và bị chó làm cho sợ mà chết; số khác bị đóng đinh hoặc bị thiêu để khi mặt trời xuống làm thành dẫy đuốc chiếu sáng màn đêm. Nero cung cấp chính vườn ngự uyển của mình cho những cuộc trình diễn này và biến chúng thành một đám xiệc. Ông ta trà trộn với đám dân thường, ăn mặc theo lối phu xe hoặc đứng trên xe ngựa kéo. Chính vì thế, những người chịu hình khổ, dù có tội và đáng bị trừng phạt, đã gây được lòng thương hại nơi quần chúng vì họ thấy các hình khổ này không hẳn vì ích lợi công cộng, mà chỉ do sự dã man của một người” .

Ta thấy nhiều điểm đáng lưu ý trong đoạn văn nổi tiếng trên. Trước nhất, trong khoảng 30 năm sau thời đức Giêsu, tại La Mã, đã có một cộng đoàn Kitô hữu lớn mạnh đủ để có thể bị nhà cầm quyền nhận dạng và tách riêng ra. Thứ hai, Tacitus, dù rất ghét hoàng đế, nhưng không thương yêu hay kính trọng gì các Kitô hữu. Ông ta bày tỏ cảm tình cá nhân gần 50 năm sau cuộc bách hại của Neron, nhưng thiện cảm của ông đối với các Kitô hữu không có bao nhiêu. Cuối cùng, và quan trọng hơn cả, Tacitus không cung cấp cho ta bất cứ giải thích nào về lý do tại sao các Kitô hữu đã bị tách riêng ra để bách hại. Ông ta có nhắc đến “các thực hành xấu xa”, “lòng thù ghét nhân loại” và “họ đáng bị phạt”, nhưng không nhắc gì đến các tội danh đặc thù căn cứ vào đó hoàng đế đã hành động.

Hai thế hệ sau khi La Mã bị thiêu hủy, tức vào khoảng năm 112, Pliny Trẻ viết cho hoàng đế Trajan về các Kitô hữu mà ông ta bách hại tại tỉnh Bithynia ở phương xa. Hoàng đế trả lời, tỏ ý khen ngợi, nhưng cho ông hay đừng đi lùng các Kitô hữu nữa, mà hãy trừng phạt những kẻ đã được trao nộp cho ông. Hoàng đế cũng cảnh giác ông nên dè dặt đối với những lời cáo buộc nặc danh không phản ảnh “tinh thần thời đại”. Dĩ nhiên câu hỏi là tại sao các Kitô hữu bị trừng phạt. Trajan không giải thích trong thư phúc đáp Pliny. Người ta chỉ giả thiết các Kitô hữu cần bị trừng phạt.

Một cách tổng quát, Kitô giáo bị coi như một đe dọa đối với công ích của quốc gia. Ðạo hiếu thảo của La Mã (Roman pietas) là đức sáng qua đó các công dân tỏ bày tình yêu và lòng trọng kính đối với đất nước. Hiếu Thảo cũng là cái đức sáng người ta mong con cái được vun trồng trong liên hệ với mẹ cha. Lòng hiếu thảo đối với đất nước được biểu lộ ra bên ngoài qua các nghi lễ và tập tục nhằm tôn kính thần minh La Mã. Ðền thần minh nói lên các giá trị của nền văn hóa La Mã; tôn kính các giá trị này là cách đảm bảo nền hoà bình thần thánh, là nền hoà bình trên đó thịnh vượng và sức khỏe của toàn đế quốc được đặt nền. Không tham dự vào biểu thức chung của lòng hiếu thảo ấy bị công dân La Mã coi như vừa phạm thánh vừa bất trung; tóm lại, đó là hành vi phản quốc. Lời kết án thường nhất cho rằng các Kitô hữu vô thần cần được nhìn dưới ánh sáng này. Thực thế, các Kitô hữu quả có bác khước sự hiện hữu của các thần minh La Mã. Nhìn từ cao điểm nền văn hóa La Mã, một nhóm như các Kitô hữu chẳng là gì khác hơn một giáo phái ngoại lai tối tăm và bí ẩn, bộc phát ở bên lề Ðế Quốc. Với các tín điều kỳ quái (một ông thần từng bị xử tử vì tội gây loạn!) và việc gây sức mạnh trong số các nô lệ và những phần tử bất mãn của các giai cấp hạ đẳng, chẳng lạ gì Kitô giáo bị người ta coi như một hội kín phản xã hội và nguy hiểm. Các công dân La Mã “lương thiện” do đó nhìn Kitô giáo không khác gì nhiều người trong chúng ta ngày nay nhìn các giáo phái cổ quái hiện hành: họ là những tên nực cười và mơ hồ được nhận ra là nguy hiểm.

Kitô giáo ngày nay là một thành phần cố định của nền văn hóa của chúng ta và đã hiện diện gần hai ngàn năm qua. Nên rất khó cho ta khi phải thẩm định các Kitô hữu đã bị những người La Mã ngoại đạo coi ra sao trong các thế kỷ thứ hai và thứ ba. Vì các Kitô hữu tương đối rất ít về số lượng và, nói chung, không có đại diện trong các giai cấp có ảnh hưởng, nên họ dễ trở thành chiên thế tội. Văn sĩ Kitô giáo nổi tiếng là Tertullian (khoảng 120-222) ghi lại rằng sông Tiber có dâng nước ngập bờ hay sông Nile có ngưng chẩy hay các vì sao có đứng im và trái đất có rung động đi chăng nữa, thì tiếng kêu ngoài phố vẫn luôn luôn là “Hãy ném các Kitô hữu cho sư tử!”

Tertullian không nói quá. Năm 177, tại tỉnh La Mã ở Phía Nam Gaul (nay là Pháp), dân chúng Kitô giáo tại Lyons, không hiểu vì nguyên do gì, rất có thể chỉ vì đa số họ gốc Á-Châu, bắt đầu cảm thấy bị áp lực phân biệt về xã hội và luật lệ. Họ bị cấm không được vào các nhà tắm công cộng. Sau đó là chợ búa và sau cùng là những nơi được thần minh La Mã phù hộ. Chưa hết, cùng với những hành động cấm đoán ít nhiều chính thức ấy, họ còn bị nhiều nhóm côn đồ trong thành phố tấn công, lùng bắt đưa tới những nơi tụ họp công cộng để đòi bị lên án. Các nhà cầm quyền, sợ áp lực đám đông, nên đã thỏa mãn ý muốn của họ. Những ai không chịu từ bỏ Kitô giáo, thì bị hành hình trong ngục. Những người sống sót kinh nghiệm lao tù được đưa tới các hí trường làm mồi cho thú dữ. Một bức thư từ Giáo Hội tại Lyons, sau này được lưu giữ trong Lịch Sử Giáo Hộicủa Eusebius (chết khoảng năm 340), kể lại những nhục hình khốn khổ của các tử đạo, trong số ấy nổi bật người con gái nô lệ anh hùng tên Blandina:

“Sau cùng là người diễm phúc Blandina: như một bà mẹ cao thượng khích lệ con cái… bà mau mắn tham gia với họ, luôn hân hoan và ngợi ca trước cái chết của mình như thể được mời tham dự tiệc cưới chứ không phải trở thành nạn nhân cho bầy thú dữ. Sau khi bị đánh đập, bị thú vật hành hạ và thanh sắt nóng bỏng, bà bị hất tung vào một tấm lưới mặc tình cho con bò mộng tấn công. Sau khi bị con thú tung hất nhiều lần, bà không còn biết chuyện gì đang xẩy ra nữa, nhờ niềm hy vọng và việc chiếm hữu được mọi điều bà tin và nhờ tình yêu thân thiết của bà với đức Kitô” .

Nhiều đợt bách hại xẩy ra trong đế quốc La Mã chỉ vì các thiên kiến trên hay do lòng nhiệt thành của một vài viên chức chính phủ tại tỉnh này hay tỉnh nọ. Ðến tận thế kỷ thứ ba, việc bách hại các Kitô hữu vẫn chỉ là từng đợt, có tính địa phương, và đôi chút tùy hứng. Ta không nên coi đó như một chế độ khủng bố toàn diện và nhất quán từ đời Neron đến đời Constantinô. Tuy vậy, vận số chính trị của La Mã bắt đầu chuyển biến theo chiều đi xuống. Với các xoay chiều chính trị này, việc người Kitô hữu không chịu tuân giữ các nghi lễ hiếu thảo của La Mã bắt đầu bị nhìn bằng con mắt đe dọa đáng sợ. Âu cũng là chuyện xưa như trái đất. Bất cứ thời nào cũng vậy, khi một quốc gia cảm thấy mình bị các lực lượng chính trị đe doạ, nó (a) sẽ bắt đầu giơ cao ngọn cờ ái quốc và (b) mạnh mẽ phản ứng lại các lực lượng thù nghịch và ngoại lai trong xã hội, vốn bị coi, dù đúng hay sai, như là đã góp phần vào sự đe dọa trên hay hút mất sức mạnh quốc gia cần để đương đầu với sự đe dọa ấy.

Năm 250, hoàng đế Decius có lý khi lo âu về tương lai của đế quốc do ông trị vì. Người Visigoths bắt đầu quấy phá Ðịa Trung Hải trong khi các bộ lạc man ri gây áp lực biên giới tại Gaul, Tây Ban Nha, và Tiểu Á. Trong nội bộ, đế quốc dường như không còn khả năng kiểm soát được đà lạm phát hoặc chấm dứt được sự mất giá liên tục của đồng tiền. Decius quyết định thống nhất các năng lực của đế quốc dưới sự hộ phù truyền thống của các thần minh La Mã. Như một phần trong chiến lược này, Decius ra lệnh trong một khỏang thời gian ngắn, mọi công dân trong đế quốc phải dâng lễ hy sinh để tôn kính các thần minh La Mã.

Các sắc lệnh của Decius đặt các Kitô hữu, đến lúc này con số đã khá đông, vào một vị thế cực kỳ tế nhị: tuân theo sắc chỉ hoàng đế là từ chối tính cách độc nhất vô nhị của đức Giêsu và thực tại đơn nhất của Thiên Chúa, trong khi chống đối sắc lệnh ấy là tự chuốc lấy lời kết án phản quốc và do đó chắc chắn bị xử tử. Phản ứng của Kitô hữu đối với sắc chỉ của hoàng đế không có chi độc đáo vì họ đã có những chọn lựa khác nhau: (a) Nhiều người, kể cả các giáo sĩ, đã tuân theo sắc chỉ trên bằng cách dâng của lễ như đòi hỏi; (b) một số né tránh hoặc bằng chứng minh thư giả rằng mình đã dâng của lễ hay bằng trốn lánh hoặc hối lộ; và (c) một nhóm nhỏ công khai chống lại sắc chỉ ấy dù phải chết. Người ta ước lượng rằng trong khắp đế quốc La Mã khoảng một ngàn người đã chết vì lý do này. Nhưng chính dạ trung kiên và lòng can đảm của nhóm thiểu số ấy đã được các Giáo Hội Kitô tưởng niệm hàng bao thế kỷ sau. Việc tuân phục hay tránh né của các nhóm đa số đã bị mọi người lãng quên ngoại trừ các sử gia cùng thời.

Cuộc bách hại của Decius xẩy ra khắp đế quốc và có hệ thống, nhưng chỉ kéo dài một năm. Sau khi ông chết, vẫn có những cố gắng khác nhằm tiêu diệt Kitô giáo, nhưng các cố gắng ấy tỏ ra vô hiệu. Cuộc bách hại lớn cuối cùng, thường đưọc gọi là Cuộc Bách Hại Vĩ Ðại, do hoàng đế Diocletian điều hướng, kéo dài trong các năm 303 đến 312. Diocletian sử dụng nhiều chiến thuật chống lại sức mạnh của Giáo Hội Kitô: Ông cho triệt hạ các cơ sở Kitô giáo. Ngoài ra, ông còn ra lệnh phá hủy tất cả các sách vở chính thức của tôn giáo này, bỏ tù hàng giáo sĩ, hành hạ bất cứ ai không chịu từ bỏ đức tin; trong một sắc chỉ năm 304, ông phục hồi sắc chỉ của Decius đòi phải dâng lễ hy sinh cho các thần minh La Mã. Sự trì chí của Diocletian là hành động cuối cùng. Kitô giáo đã đâm rễ sâu trong đế quốc, không thể bị nhổ gốc nữa. Năm 313, Constantinô phải ra sắc chỉ Milan đem lại sự khoan dung cho Kitô giáo. Ngoại trừ một giai đoạn ngắn vào cuối thế kỷ dưới thời hoàng đế Julian Bỏ Ðạo, việc bách hại Kitô giáo đã chấm dứt. Thời đại các tử đạo từ nay trở thành chất liệu cho cả lịch sử lẫn giai thoại.

Ðặc Ðiểm của Tử Ðạo

Ta biết rằng dưới bàn tay các hoàng đế La Mã, nô lệ cũng như kẻ tự do đều đã chết cùng với người quyền quí và kẻ nghèo hèn, dân sự cũng như lính tráng. Ta cũng biết rằng một số tử đạo coi trọng đế quốc, nhưng không thiếu vị coi nó như hiện thân xấu của kẻ nghịch cùng đức Kitô (antichrist). Nhiều vị tử đạo tự chường mình ra cho cơn bách hại, trong khi nhiều vị khác bị trao nộp cho kẻ hành hình. Tính chất phức tạp của biến cố cũng như việc hiển dương (kể cả huyền thoại hóa) họ sau đó làm cho việc đặc điểm hóa mẫungười tử đạo trở thành khó khăn. Tuy thế, người ta vẫn có thể đưa ra một vài tổng quát hóa liên quan đến thời kỳ đang bàn để hiểu cả các vị tử đạo thời ấy và việc tử đạo như một phạm trù tôn giáo nói chung.

Giáo Hội Kitô dùng hạn từ tử đạo (nguyên ngữ Hylạp: chứng nhân) chỉ để chỉ những người chết vì đức tin theo gương đức Kitô trong một cuộc bách hại. Từng đã có sự phân biệt giữa những người công khai tuyên xưng đức tin của mình trước một công chúng thù nghịch hay trước một phiên xử theo luật, những người sử gọi là confessores (tuyên xưng) và những người hiến mạng sống mình như của lễ hy sinh cuối cùng. Bức thư của Giáo Hội Lyons mà chúng tôi đã nhắc trên đây cho thấy rõ sự phân biệt này:

“… Sau khi được đem trở về từ chỗ bị thú dữ vờn dập, mình mẩy đầy bầm tím thương tích, các vị vẫn không chịu cho mình là tử đạo và cũng không chịu để chúng tôi gọi bằng tên ấy. Thực thế, nếu có ai trong chúng tôi dám nói về các vị như những tử đạo cả bằng lời lẫn bằng chữ viết, các vị sẽ cự tuyệt ngay. Bởi các vị hân hoan dành tước vị tử đạo ấy cho một mình đức Kitô mà thôi, ngài mới là chứng nhân (martyr) thực sự và trung thành, kẻ đầu hết trong số người chết (xem Col. 1:18), và là hoàng tử sự sống của Chúa. Và các vị cũng nhắc đến những người đã nghỉ yên là tử đạo khi nói rằng: họ thực sự là tử đạo, những người mà đức Kitô đã đoái thương nhận lấy trong giờ họ tuyên xưng, đóng dấu ấn của ngài trên việc làm chứng bằng cái chết của họ; còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là những kẻ tuyên xưng hèn mọn” .

Ðể ta khỏi nghĩ rằng mọi Kitô hữu đều là những người cao thượng và đầy hy sinh như trên, ta hãy lắng nghe chứng thư của Dionysius, giám mục Alexandria (người vừa mới thoát chết), mô tả tác phong Kitô hữu khi sắc chỉ chống các Kitô hữu được phổ biến trong khu vực của ngài dưới thời bách hại của Decius năm 250:

“… Việc đào ngũ khá phổ biến. Một số đông các vị và các viên chức cao cấp tự ý đi gặp các thẩm quyền La Mã. Ðược kêu và mời đích danh dâng hy lễ, họ rầu rầu tiến lên, run run như thể chính họ sẽ trở thành của hy sinh. Những người can đảm hơn thì chạy ngay tới các bàn thờ ngoại giáo, lớn tiếng phản đối mình chưa bao giờ là Kitô hữu cả…” .

Thứ hai, các tử đạo chết vì họ sống trong một nền văn hóa thù nghịch với các niềm tin của họ. Thoạt nhìn, điều ấy xem ra quá hiển nhiên chẳng cần phải lưu ý, nhưng thực ra nó đòi ta một chút suy tư. Ðọc kỹ hạnh (acta) các tử đạo và các nguồn tài liệu khác từng được truyền lại cho ta, ta sẽ thấy các viên chức công đã tỏ ra sững sờ và thất vọng biết bao trước thái độ ương ngạnh (tenacity) của các Kitô hữu. Hoàng đế khắc kỷ nổi tiếng là Marcus Aurelius (trị vì từ 161 đến 180) trong Suy Nghĩ (Meditations), diễn tả sự tởm gớm của ông đối với các Kitô hữu về điều ông cho là họ ngoan cố trong việc chọn cái chết. Ðối với nhiều người, hoàng đế này cũng như nhiều người khác coi các Kitô hữu như những tên cuồng tín mà người ta không thể nói chuyện theo lý được. Sự thất vọng của quần chúng hiểu biết tại La Mã cũng mang mầu sắc một nỗi sợ, sợ rằng tính chất cuồng tín trên có tiềm năng biến thành một phong trào nổi dậy hay cách mạng chống lại họ. Một học giả nổi tiếng thời ấy đã mạnh mẽ chứng tỏ rằng sự chán ghét Kitô giáo trong đế quốc La Mã do cả giới quí tộc lẫn giai cấp bình dân phát biểu đã rất ăn khớp với nhau . Các giai cấp thượng đẳng sợ tiềm năng cách mạng của thứ giáo phái nửa kín nửa hở này, một thứ giáo phái nhất quyết chống lại các nghĩa vụ công dân của họ, trong khi quần chúng bình dân lại sợ những tên vô thần với những cách sống quái dị có thể chọc giận các thần minh khiến các ngài có thể gây họa đói kém hoặc bệnh dịch thì khốn to. Trong cả hai trường hợp, như chính Tertullian đã viết, thật dễ cho họ hô lên: Hãy Ném Kitô hữu cho Sư Tử!

Chính lòng ác cảm ấy đã thúc đẩy một số nhà văn Kitô giáo thuộc thế kỷ thứ hai (gọi là các nhà hộ giáo) cầm bút bênh vực Kitô giáo của mình. Mục đích của họ có hai: bác bỏ các kết án về tính vô luân và tội ác áp đặt lên người Kitô hữu và thuyết phục các nhà cầm quyền La Mã (một vài bản hộ giáo ngỏ lời trực tiếp với các hoàng đế đương trị vì) rằng các Kitô hữu không phản quốc hoặc tạo loạn. Các nhà hộ giáo biện luận, giống

như các người chống thuế và chống quân dịch ngày nay biện hộ, rằng các Kitô hữu thực ra đều là các công dân gương mẫu dù không thể tuân theo một vài đòi hỏi luật định của chính phủ. Họ nại đến một luật cao hơn, tức luật của Chúa, để biện minh cho lập trường của mình. Các nhà hộ giáo trình bày lập trường ấy một cách rất hùng biện nhưng công trình của họ xem ra vô dụng vì những cuộc bách hại gia tăng trong thế kỷ kế tiếp đã chứng minh điều ấy.

Chúng ta nên ráng nắm bắt cái cảm thức cô đơn và can đảm trong quyết định chịu đựng cho đến chết vì niềm tin vào đức Kitô. Ðã đành các tử đạo được hưởng sự sủng ái của cộng đoàn các tín hữu Kitô, nhưng sự sủng ái này chỉ có hoặc từ một khoảng xa an toàn hoặc sau khi các ngài đã qua đời, lúc cộng đoàn ấy tưởng niệm những hành vi đảm lược của họ. Cái quyết định tại chỗ muốn tuyên xưng đức Kitô dù phải chết được mọi người coi như quá cả nghĩa cử anh hùng; nó được nhìn như một đặc sủng. Các ghi chép về các vụ tử đạo tiên khởi, hiện còn đến ngày nay, nhiều lần cho thấy các vị tử đạo chịu đựng số phận của mình bất chấp các lời van xin của bạn bè và gia đình. Trong trình thuật tuyện đẹp về việc tử đạo của Perpetua và Felicity, một chứng thư đầu thế kỷ thứ ba thuộc Bắc Phi mà một phần đã được chính Perpetua viết và rất có thể đã được Tertullian nổi danh nhuận sắc, ta thấy hoàn cảnh của một phụ nữ để lại chính đứa con thơ của mình, đứa con mà bà đã bú mớm lúc ngồi tù. Trình thuật ấy cho thấy rõ bà không được chính gia đình mình hiểu và nâng đỡ:

“… Rồi khi đến lượt tôi, cha tôi xuất hiện cùng với con trai của tôi, kéo tôi ra một bên mà nói: con hãy dâng của lễ đi, hãy thương xót đứa con thơ này!

“Tổng trấn Hilarianus, người tiếp nhận thẩm quyền tư pháp trong tư cách kế nhiệm Chấp Chính Viên quá cố Minucius Timinianus nói với tôi: hãy thương xót mái tóc bạc của cha cô; hãy xót thương đứa con thơ dại của cô. Hãy dâng của lễ cho phúc lộc của hoàng đế!

Tôi thưa lại: tôi không làm thế được!

Hilarianus hỏi: Cô có phải Kitô hữu không?

Và tôi thưa: dạ phải, tôi là Kitô hữu.

Khi thấy Cha tôi khăng khăng thuyết phục tôi, Hilarianus truyền lệnh phải ấn cụ xuống đất và đánh đòn cụ. Tôi thương cha tôi, như thể chính tôi bị đánh vậy. Tôi thương cho tuổi già sức yếu của người.

Rồi Hilarianus tuyên án hết thẩy chúng tôi. Chúng tôi bị kết án ném cho thú dữ, và được trở lại nhà tù với tinh thần lên cao. Nhưng cháu bé của tôi đã quen bú sữa mẹ và ở với tôi trong tù. Nên tôi nhờ phó tế Pomponius đến ngay nhà cha tôi để xin cháu bé. Nhưng cha tôi từ chối không trao cháu bé…” .

Ðối với Giáo Hội sơ khai, vẻ chói lọi đơn độc trong việc làm chứng cũng như đức tin bền vững của họ đã làm các tử đạo trở thành quá bậc anh hùng. Các ngài được tôn kính và tuyên dương; các vị đang đợi bị xử tử có uy quyền vô song nơi các tín hữu. Ngay trước ngày chấm dứt thời đại bách hại, sinh nhật (natalicia) của các ngài, tức ngày các ngài qua đời, đã được tưởng niệm trong phụng vụ và ngôi mộ của các ngài trở thành những nơi hành hương kính viếng.

Cái làm động lực cho cộng đoàn Kitô hữu tôn kính các tử đạo như trên là điều không khó hiểu. Có cái gì đó rất sâu trong tâm thức con người muốn nhìn nhận những người chết cho một vấn đề, đặc biệt nếu đó là vấn đề thân thiết trong tâm hồn nhiều người. Tertullian từng viết rằng máu các tử đạo là mầm ươm Giáo Hội. Ông đã nói lên một chân lý đối với Kitô giáo, điều mà ta chỉ hiểu cách tổng quát. Ta chỉ cần tới thăm ngôi mộ của người chiến sĩ vô danh tại nghĩa trang quốc gia Arlington là thấy ngay sức mạnh biểu tượng của cái chết hy sinh và nghi thức tưởng niệm nó như một phương thế duy trì sự gắn bó keo sơn của xã hội. Ðôi lúc, nghi thức ấy mang giáng dấp của một thúc đẩy có tính tiên tri và cách mạng. Tại quảng trường chính ở Prague, người ta vẫn còn thấy một chỗ, thường được những bàn tay vô danh trang trí hoa lá, nơi Jan Palach tự thiêu cho đến chết năm 1968 để phản kháng việc nhà cầm quyền Sô-Viết dập tắt phong trào Prague Nổi Dậy. Cái chết của một cá nhân như thế khiến người ta nghĩ đến một mục tiêu khác, một ý niệm trừu tượng khác. Người Tiệp hiện nay hoàn toàn thần phục uy quyền chính trị và quân sự của Liên Bang SôViết (lúc tác phẩm này ra đời, ghi chú của người dịch), nhưng cá nhân nào đó vẫn còn có thể xác định điều anh ta/chị ta nghĩ qua nghĩa cử nhỏ bé, và phần nào, tầm phào đặt mấy bông hoa trên nền đá sỏi của một quảng trường thị xã.

Người tử đạo thời nay, bất kể tôn giáo hay chính trị, khác với các người tử đạo xưa của Ðế Quốc La Mã ở một điểm cực kỳ quan trọng. Trong thế giới cổ thời, người ta rộng rãi, nếu không muốn nói là toàn diện, tin rằng các người tử đạo là nguồn suối của một sức mạnh thánh thiêng. Mồ chôn họ, nơi chứa các hài tích của họ, là những nơi trong đó lời kinh cầu bầu có thể đem đến sự can thiệp của thiên giới bằng cách tỏ lộ sức mạnh thần thiêng. Việc tôn kính các thánh khai triển rất nhanh sau thời hòa bình Constantinô đem lại cho Giáo Hội đầu thế kỷ thứ tư. Lòng sùng kính các tử đạo (và qua đầu thế kỷ thứ sáu, các thánh không phải là tử đạo) trở thành một trong những đặc điểm của Kitô giáo thời đầu trung cổ. Cùng với những nơi đã trở nên thánh thiêng do cuộc đời đức Kitô trên Ðất Thánh, các thành phố lớn có các tử đạo như Antioch, Constantinôople, và, nhất là La Mã, đã trở thành nam châm thu hút khách hành hương lũ lượt kéo đến cầu nguyện bên mộ các tử đạo. Chính tại các ngôi mộ này, như học giả nổi tiếng Peter Brown đã viết, cái sức mạnh như suối nước nóng (geyser) của phép lạ và kỳ diệu đã vọt lên.

Khi thời bách hại La Mã lui vào quá khứ, thì nhất định các truyện kể về các tử đạo sẽ được lên khuôn nhờ sự phong phú của trí tưởng tượng và cái huyền ảo của chủ nghĩa lãng mạn. Các tử đạo sẽ trở thành mạnh bạo hơn (và đông hơn), các đối đáp của họ trau chuốt và thần học hơn, các tên bức bách quỉ quái hơn, và, một cách chung chung, hạnh các thánh được quấn chặt hơn bằng mạng lưới vĩ đại của trí tưởng tượng. Người ta chỉ cần đọc các hạnh thánh sơ sài viết gần như cùng thời với các biến cố bách hại với những cuốn như Golden Legend của Jacobus de Voragine viết vào thời trung cổ, để thấy rõ sự khác biệt. Với giòng thời gian, tất nhiên thịt và máu các người bị hành khổ tại các hí trường La Mã không tránh khỏi trở thành những hình ảnh mô thức đáng kính trong truyền thống nghệ thuật và Giáo Hội của nền văn hóa Tây Phương: Thánh Lôrensô với cái vỉ nướng tiêu biểu; Catherine với chiếc bánh xe, cả hai cầm nhành thiên tuế biểu hiệu cái chết vì đức Kitô của họ.

Tử Ðạo: Truyền Thống Sau Này

Sang cuối thế kỷ thứ tư, Kitô giáo tiến từ tình trạng được nhà nước khoan dung qua tình trạng trở thành tôn giáo nhà nước của Ðế Quốc La Mã. Suốt một thiên niên kỷ tiếp theo, những người chết vì đức tin đã chết hoặc trong tư cách truyền giáo bên bờ thế giới văn minh, dưới tay người Hồi Giáo sau khi tôn giáo này được thiết lập vào thế kỷ thứ 7, hay trong những cuộc đụng đầu với các phần tử ly khai (bè rối). Cần ghi chú rằng trong cả hai trường hợp vừa nhắc, các Kitô hữu Công giáo cũng có khả năng tạo nên các người tử đạo cho cả Hồi Giáo lẫn những giáo phái ly khai tại Phương Tây Kitô giáo.

Chỉ trong những thời kỳ trong đó Giáo Hội dấn thân vào sinh hoạt truyền giáo đại thể ở những phần thế giới chưa được thăm dò hay biết đến ở Phương Tây, ta mới bắt đầu nhìn ra các tử đạo đang chết trong những hoàn cảnh tương tự như các tử đạo tiên khởi của thời La Mã, nghĩa là, như một thiểu số mà niềm tin tôn giáo bị nhìn như hoàn toàn thù nghịch với lợi ích của xã hội và văn hóa.

Trong thời vĩ đại có những khai phá của phong trào Phục Hưng, thời kỳ tìm ra Tân Thế Giới và việc xây dựng các thuộc địa của người Âu Châu, người ta mới lưu ý đến việc có những liên hệ với Cận Ðông. Các phái bộ truyền giáo của Kitô hữu đã từng đặt chân lên Trung Hoa từ cuối thời giáo phụ và sau này trong thời Trung Cổ. Tuy nhiên phải đến thế kỷ 16, các nhà truyền giáo, bị thúc đẩy bởi phong trào canh tân tiếp theo Phong Trào Thệ Phản, mới bắt đầu ồ ạt xâm nhập Trung Hoa, Nhật Bản và các phần đất khác của Phương Ðông.

Giữa thế kỷ 16, phần lớn nhờ lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo Dòng Tên, Phanxicô Xaviê (1506-1552), các phái bộ truyền giáo Công giáo bắt đầu tạo được những nét riêng của mình trên xã hội Nhật Bản mà trước đó vẫn hằng đóng kín. Ðến thập niên 1580, người Kitô hữu Công giáo đã lên đến hàng trăm ngàn. Nhưng năm 1587, những bộc phát đầu tiên trong cảm thức chống Công giáo bắt đầu xuất hiện. Cuộc bách hại chính thức này sẽ được tiếp nối bằng nhiều cuộc bách hại đứt quãng, chen lẫn với những thời tương đối bình yên cho đến ngày vị linh mục thừa sai cuối cùng tại Nhật chết đói trong xà lim Tokyo.

Thời kỳ giữa 1587 và cuối thế kỷ 17 được nạm bằng tên nhiều vị tử đạo Công giáo. Thí dụ năm 1597, 26 người, trong đó 17 là giáo dân Nhật Bản, đã bị đóng đinh tại Nagasaki. Năm 1614, tiếp theo nhiều cuộc hành hình, đã có cố gắng trục xuất tất cả các Kitô hữu ra khỏi xứ sở. Từ đó trở đi, thường có những cuộc bách hại lẻ tẻ chống người Công giáo tại Nhật.

Ðiều gì đã châm ngòi cho những cuộc bách hại ấy? Các lý do không khó đoán: người ta thấy một phân cách lớn về văn hóa giữa dịch bản Âu Hoá về Ðạo Công giáo do các nhà truyền giáo Dòng Tên mang tới Nhật Bản và đời sống văn hóa của xứ sở này; rồi va chạm tôn giáo với cả Thần Ðạo (là tôn giáo đồng hoá tôn giáo với nhà nước) lẫn Phật giáo; các Tướng Quân thì sợ việc Kitô hóa đất nước sẽ phá hoại uy quyền của họ. Cuối cùng là mối lo thực sự rằng Kitô giáo, hơn bất cứ điều gì khác, chính là đại diện cho các tham vọng kinh tế và chính trị của Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha.

Ngoài các yếu tố xã hội phức tạp, một điều hết sứ rõ ràng là: Ðạo Công giáo tại Nhật ở cuối thế kỷ thứ 16 và trong suốt thế kỷ 17 là một lịch sử của lòng can đảm vô biên và của niềm tin tôn giáo không lay chuyển. Trong thời kỳ này, hằng hà con số tín hữu bản quốc chết vì đạo. Ngày nay, người ta vẫn còn được thấy trong các viện bảo tàng những hình ảnh quá khoá, nghĩa là những bản khắc hình đức Giêsu đóng đinh được dùng để xác định ai là tín hũu. Vì người nào từ khước không chịu bước qua ảnh khắc được coi là người tin vào đức Giêsu. Các hình quá khóa này khiến ta nhớ lại cách thử của Pliny để khám phá ra ai thực sự là Kitô hữu trong thế kỷ thứ hai tại Bithynia: Ông yêu cầu họ nguyền rủa đức Giêsu và tôn kính hình hoàng đế. Ông viết cho hoàng đế rằng, Kitô hữu thực sự sẽ không nguyền rủa như được yêu cầu. Lòng quả cảm và sức trì chí của các Kitô hữu Nhật Bản mạnh đến độ trong thế kỷ sau, khi các nhà truyền giáo trở lại Nhật, họ tìm ra những nhóm nhỏ “các Kitô hữu giấu ẩn” là những người dù không có linh mục hay bất cứ sự trợ giúp bên ngoài nào, vẫn tiếp tục chuyển giao một thứ đức tin Công giáo phần nào đã bị cắt xén. Hiển nhiên, các phần tử trong gia đình tự dạy dỗ lẫn nhau qua các thế hệ khi không còn nhà truyền giáo nào hay một giáo sĩ bản xứ nào tại xứ sở nữa. Ngày nay các “Kitô hữu giấu ẩn này” sinh hoạt như một giáo phái nhắc người ta nhớ đến kinh nghiệm quá khứ.

Số phận các tử đạo Nhật có thể có ích khi so sánh với với kinh nghiệm trong thế kỷ 19 của người Công giáo Uganda. Năm 1877, các nhà truyền giáo Anh Giáo bắt đầu giảng phúc âm tại Uganda. Các nhà truyền giáo Công giáo theo chân họ hai năm sau. Trong các năm 1885-1887, Vua Mwanga của Uganda hành quyết số đông Kitô hữu, kể cả những người phục vụ cho hoàng gia. Người ta nghĩ rằng họ bị xử tử vì đã cưỡng lại các đòi hỏi sinh lý bất thường của nhà vua. Trong giai đoạn bách hại này, có cả tín hữu Anh Giáo lẫn Công giáo bị hành quyết, mặc dù, trong một hành động không mấy đại kết, đức cố giáo hoàng Phaolô Ðệ Lục đã chỉ phong thánh cho các tử đạo Công giáo vào năm 1964.

Khi nhìn vào các điển hình bách hại và tử đạo này , người ta có thể nêu câu phản đối. Tất cả những người này có chết vì những người bách hại họ thù ghét đức Kitô và giáo huấn của Ngài hay họ chỉ bách hại vì những lý do xã hội và/hay chính trị? Trong trường hợp những vị tử đạo can cường dưới thời Elizabeth Ðệ Nhất của Anh, há không đúng là các linh mục xâm nhập nước này đều là kẻ thù có tuyên thệ chống Hoàng Gia và do đó dưới cái nhìn của Anh quốc đều là những tên bội phản nguy hiểm của Anh? Dưới quan điểm Nhật Bản, các Kitô hữu há không phải là những người xa lạ với tất cả các giá trị truyền thống của xã hội Nhật Bản đó sao? Dưới quan điểm Phi Châu trong thế kỷ trước, các nhà truyền giáo Kitô há không nguyên tuyền chỉ là những cánh tay nối dài của bạo lực thực dân (một bạo lực không bao lâu trước từng cướp phá các duyên hải để lùng bắt nô lệ), những kẻ không những tiêu diệt nền văn hóa bản quốc mà còn bóc lột các nguồn tài nguyên bản địa, đất đai, khoáng sản? Những trận thảm sát rùng rợn các nhà truyền giáo Âu Châu tại Congo trong thập niên 1960 há chẳng phải là những bùng nổ cuối cùng của lòng thù hận mà nhiều người Phi Châu từng ấp ủ trong lòng hơn một thế kỷ qua?

Các câu hỏi trên rất khó trả lời; chúng đã được nêu lên ( và được trả lời cách này cách khác) bởi các nhóm khác nhau từ các sử gia chính trị Mac-Xít đến chính các thần học gia giải phóng. Ðối với các mục đích của chúng ta, chúng ta nên xác quyết một sự kiện dẫn khởi từ các câu hỏi trên: có một cái gì tạo loạn (subversive) về mặt xã hội trong niềm tin tôn giáo được người ta kiên trì tuân giữ. Hệ luận của điều đó đối với các Kitô hữu là sự kiện không luôn luôn được người ta nhận rõ, đó là: niềm tin Kitô sâu xa nhất định sẽ đem lại một căng thẳng đối với bất cứ trật tự nào đã được thiết dựng mà nó gặp trên đường. Khi con người ta duy trì một xác tín tôn giáo cách trì chí đến độ họ sẵn sàng hy sinh mạng sống của họ vì nó, thì việc làm chứng của họ không những khiến nhiều người ngạc nhiên, mà thực sự đó là nguồn gây xì căng đan và chia rẽ. Ðó chính là điều Thánh Phaolô muốn nói khi ngài cho rằng thánh giá quả là viên đá làm người ta vấp ngã.

Ngày 9 tháng 8 năm 1943, Franz Jagerstatter bị hành quyết tại BáLinh vì từ khước phục vụ trong lục quân Ðức. Kiến thức nhỏ nhoi về tôn giáo của Jagerstatter (anh ta là một nông dân Áo ít học) đưa anh đến niềm xác tín rằng chính quyền của Hitler là một chính quyền ngẫu tượng và lòng trung thành bình thường đối với Kitô giáo đòi người ta không nên tham gia các lực luợng quân sự của nó. Ngày nay, ta coi anh như tử đạo vì chủ nghĩa hòa bình và phong trào kháng chiến chống Quốc Xã, nhưng vào thời anh, người cùng làng anh coi anh như tên điên không hề nghĩ gì đến nỗi lo âu buồn sầu anh đã mang lại cho vợ và ba con nhỏ. Ngay sau chiến tranh, giám mục Công giáo của khu vực cũng thích người ta không nên đề cập nhiều đến việc hy sinh của anh sợ rằng điều đó có hại đến tinh thần những người từng phục vụ trong quân ngũ hoặc tỏ ra bất kính đối với những người đã chết trong chiến tranh. Một tử đạo, nếu thoát ra ngoài những giới hạn đạo đức trong tấm thẻ thánh thiện hay trong lồng kính ngũ sắc của cửa sổ thánh đường, quả khiến người ta lúng túng khi phải đối diện .

Ðể ta khỏi phê phán vị giám mục Áo trên đây và các người đồng quê cùng thời với Jagerstatter (chúng ta có cái lợi đến sau), ta nên nhớ kỹ rằng mỗi ngày, người ta chọn các tử đạo tùy theo các thiên kiến chính trị của mình. Những ai thuộc phe hữu thì thích kể lại những chuyện hãi hùng về việc bách hại tôn giáo sau Bức Màn Sắt hay các chứng nhân Kitô giáo của Gulag. Có muôn vàn chuyện tích để kể. Những ai thuộc phe tả, trái lại, lại thích nhấn mạnh đến các giáo sĩ và giáo dân tại Châu Mỹ La tinh từng bị tra tấn, bắt cóc và sát hại bởi các nền độc tài quân phiệt. Khuynh hướng phong thánh lọc lựa này cho thấy rõ việc tử đạo thực sự đã can dự cách gần gũi ra sao vào việc chúng ta hiểu đời sống trong xã hội. Chỉ qua những hiểu biết gần gũi và có thiện cảm về các đau đớn của các tử đạo ngày nay ta mới có thể bắt đầu có được một cảm thức nào đó về nỗi thống khổ của các vị tử đạo ngày xưa.

Tử Ðạo: Một Suy Tư

Cần hiểu rõ rằng mô phạm vĩ đại của tử đạo là chính đức Giêsu. Thử thách tối hậu của tình yêu là việc sẵn sàng hiến mình cho người khác. Ðó là bài học sau cùng về cuộc đời của đức Giêsu như Tân Ước đã chỉ rõ. Chính việc tự hiến mình trên thập giá của đức Giêsu đã làm Ngài trở thành mẫu mực chứng nhân – hay tử đạo. Các hạnh thánh và trình thuật thương khó về các tử đạo tiên khởi chỉ nhắc đi nhắc lại cùng một chủ đề kêu cầu danh thánh Kitô bởi những người sẵn sàng chịu hình phạt tối hậu:

“… Chúng tôi nhất quyết không bao giờ từ bỏ đức Kitô, bởi vì ngài đã chịu đau khổ để cứu chuộc những người được cứu rỗi trên toàn thế giới, đấng vô tội chết vì những kẻ tội lỗi. Chúng tôi nhất quyết không thờ lạy bất cứ ai khác. Ðối với ngài, chúng tôi tôn thờ như Con Thiên Chúa, trong khi chúng tôi mến yêu các tử đạo vì các ngài là môn đồ và người mô phỏng Chúa, và quả đúng như thế, vì lòng trung thành không gì thắng nổi của các ngài đối với vua và chúa của họ. Ước mong chúng tôi cũng được chia phần đồng môn đồ với các ngài” .

Việc sẵn sàng chết cho đức tin là chứng minh tối hậu cho cam kết đức tin của mình. Sự đe doạ của cái chết mạnh đến độ trở thành thước đo cho những gì ta coi là tối hậu và không thể thương lượng được ở trên đời. Ðâu là điều ta sẵn sàng chết cho? Danh dự? Quê hương? Gia Ðình? Sản nghiệp? Tình yêu? Khi ta đọc về các tử đạo tôn giáo, họ nhắc ta – đúng hơn họ thử ta – về mức độ ta chấp nhận hay không chấp nhận tư cách môn đồ đức Giêsu. Họ buộc ta phải tự vấn: mình có thể đi xa đến thế hay không? Ngay trong thời bách hại La Mã, đã có những người tự vấn mình như vậy. Clement thành Alexandria (khoảng năm 150-215), người từng sống qua nhiều cơn bách hại, cho rằng tử đạo là hành vi tột đỉnh của một đời cho đi tìm kiếm Thiên Chúa và tình yêu của Người. Quan niệm như thế, ngài viết trong Stromata rằng đó là một ân phúc không phải ai cũng được trao ban. Nó chỉ được ban cho những ai dùng cả cuộc đời mình chuẩn bị đón nhận nó.

Chính vì tử đạo là một khẳng định tối hậu như thế, mà trong lịch sử ta đã tôn kính các vị tử đạo vĩ đại cả vì sức mạnh lẫn gương sáng các ngài đã cung cấp cho ta. Trong lịch sử lâu dài của Kitô giáo, một vài vị tử đạo – thường là những vị bị giết bởi các “Kitô hữu” khác – đã trở thành những anh hùng nhân gian do thảm kịch, phong cách, hay sức dũng cảm trong cái chết của họ. Ta tưởng niệm Joan thành Arc niệm danh đức Giêsu khi lửa bắt cháy thân xác bà. Ta nhớ đến Thánh Tôma More xin giúp đỡ để leo lên bậc đầu đài, nói rằng ngài có thể bước xuống không có vấn đề gì cả. Các vị khác, giống như Joan và Tôma More, được ca tụng trong văn chương, phim ảnh, và kịch nghệ. Tôma à Becket đã trở thành một phần trong lịch sử nước Anh đến nỗi dường như ông vượt lên trên lịch sử. Chắc chắn việc lôi kéo thiêng liêng các hài tích của ngài trong thời Trung Cổ rất phi thường. Trong kịch bản Murder in the Cathedral (Thảm Sát Trong Nhà Thờ Chính Tòa)của T.S. Eliot, viễn tượng tử đạo trong tương lai được miêu tả như một cơn cám dỗ của kiêu ngạo. Trong diễn biến của vở kịch, tiếng nói cám dỗ đặt trước đôi mắt của Tôma à Becket cái vinh quang của tử đạo như một cách trả thù đối với những kẻ sát hại ngài. Chỉ cần giây lát đau đớn, Tôma sẽ chiếm được nước trời, còn những kẻ giết ngài sẽ bị luận phạt: “Hãy tìm kiếm con đường tử đạo, hãy làm cho con thành thấp nhất trên Ðất, để được cao trọng trên Trời. Và hãy nhìn xa tắp dưới con, nơi vực thẳm đã thành cố định, các kẻ hành khổ con, phải chịu hình khổ muôn đời, những hình khổ nung đốt, không làm sao giập tắt được” .

Chính vì chúng ta có thể lãng mạn hóa sự kết cuộc của tử đạo một cách anh hùng, nên chúng ta cần duy trì thực tại hết sức kiên cường của tử đạo gần với kết cấu của kinh nghiệm hiện tại và lịch sử hiện đại. Chất liệu của các Hạnh Thánh và Trình thuật Thương khó hiện nay được trao đến cho chúng ta một cách đại qui mô trong ký ức của những người đã trốn thoát từ các gulags và qua các báo cáo của các tổ chức như Ân Xá Quốc tế.

Những nét anh hùng của tử đạo có thể có được là do mức độ ta có thể tách kinh nghiệm tử đạo ra khỏi thực tại của ta. Các vị tử đạo của La Mã xưa chỉ nói với ta qua vực thẳm của lịch sử. Theo nghĩa đó, tử đạo lọc thấu tới ta qua nhiều lớp sương mờ của giai thoại, qua nghệ thuật trung cổ và phục hưng, qua chuyện tích phẩm trật của phụng vụ, và vân vân. Ðó là thế giới của Thánh Sebastian nằm trên gối cắm đầy mũi tên hay thánh Agnes bình tĩnh đợi chờ cái chết. Thật khác xa cuộc sống của những con người bị thuốc độc biến thành lay lắt như thân cỏ trong các viện tâm thần Sô Viết hay bị điện giật trong các căn hầm nhà tù Châu Mỹ La tinh. Ðiều ấy xẩy ra hàng ngày trong thế giới chúng ta. Tử đạo trở thành tựa đề lớn trên nhật báo ngày nay.

Làm thế nào chuyên chở được thực tại của tử đạo ngày nay? Ta sẽ nghĩ gì khi thấy bức bích hoạ vẽ một người đang bị điện cực dí vào bộ phận sinh dục? Ðó phải chăng là một xì căng đan hay một trò giải khuây? Nếu thế, thì chính là vì ta đã tách mình ra khỏi thực tại hiện nay đến nỗi tử đạo bây giờ chỉ còn thuộc cái thế giới của “ngày xửa ngày xưa”. Nếu ta cần phải tạo ra một thứ ảnh tượng tử đạo cho thế giới ngày nay, chắc chắn ta phải bỏ đi những chiếc bánh xe, nhửng vĩ than hồng, những con sư tử, những gươm cùng giáo để thay thế chúng bằng những mũi kim chích dưới da, những điện cực, những ánh sáng chóa mắt, những đôi giầy ủng. Ta cũng cần phải học cách miêu tả loại chết chóc mới – cái chết tâm trí. Nghệ thuật Kitô giáo của ta sẽ phải miêu tả ra sao sự biến đổi một con người ý thức thành một cọng cỏ vô hồn tuyệt vọng?

Ðiều trên dẫn ta tới một điểm khác. Nhiều trình thuật tử đạo khởi đầu bằng cách đồng hóa những kẻ bách hại với thế giới ma quỉ. Các thần học gia thích tương phản vẻ tinh ròng của các tử đạo với tính quỉ dữ nơi các kẻ bách hại của Ðế quốc La Mã. Cái chết của tử đạo được nhìn như một cuộc chiến đấu cánh chung giữa thế lực đức Kitô và thế lực Satan. Nghệ thuật trung cổ còn miêu tả những tên hành hình các tử đạo như bày quỉ sứ. Ngày nay ta có khuynh hướng coi những miêu tả ấy như một thứ nghệ thuật nhân gian kỳ quái bởi đối với ta, ý niệm quỉ sứ hay ma quỉ có rất ít tính lôi cuốn. Nhưng nếu nhìn quá bên kia các khuôn tưởng văn hóa (cultural stereotypes) của thời quá khứ, có lẽ ta nên tự hỏi nhà viết hạnh thánh thời trung cổ có đem lại một quán tưởng (insight) quan trọng nào đó cho ta hay chăng.

Khi ta đọc về các trại tập trung, các gulags, các nhà nước cảnh sát trị, và các đội ám sát, ta thấy các bạo lực tấn công thẳng vào chính bản nhiên của phẩm giá con người và chân lý. Những cuốn sách khác nhau như tiểu thuyết Bóng Tối Giữa Trưa (Darkness at Noon) của Arthur Koestler và Eichmann tại Giêrusalem (Eichmann in Giêrusalem) của Hannah Arendt đã đề cập đến bản nhiên, không phải của hành vi ác, mà là của chính sự ác. Những công trình như thế giúp ta hiểu ra rằng sự ác không phải là cái gì trừu tượng; nó là một thực tại mạnh mẽ từng chiếm hữu con người đến độ có thể sai khiến những kẻ này đi hạ phẩm giá người khác bằng cách tiêu diệt họ.

Như thế, tử đạo là những người xưa cổ như những hình tranh ta thấy cứng lạnh trong các tấm kính mầu, mà cũng là những người hiện đại như những câu truyện được tiết lộ trong số mới nhất gần đây của New York Times. Khi ta nghe những truyện tích về các tử đạo thời xưa được nhắc nhớ trong phụng vụ, ta cần tưởng niệm không những những người đã chết hàng thế kỷ qua, mà cả những người, vì danh đức Kitô, vẫn còn đang chết ngày nay.

Ghi Chú

Tacitus, Annales, XV, 44; tác giả dịch. Vườn thượng uyển của Neron nằm ngay phía nam Quảng Trường Thánh Phêrô. Thạch trụ cổ (obelisk) trong quảng trường trước đây được đặt trong ngự uyển. Theo tương truyền, Thánh Phêrô chết trong vườn này dưới thời bách hại của Neron.

“Thư của Giáo Hội Lyons và Vienne” trong The Acts of the Christian Martyrs (Hạnh các Tử Ðạo Kitô Giáo), H. Musirillo dịch và giới thiệu (Oxford, 1972), các tr. 79-81. Thư này được lưu giữ trong Ecclecsiatical History (Sử Giáo Hội) của Eusebius, quyển V.

Musurillo, tr.83

Eusebius, Ecclecsiatical History, quyển VI, tr.40

W.H.C. Frend, Martyrdom and Persecution in the Early Church (Tử Ðạo Và Bách Hại trong Giáo Hội Tiên Khởi) (Oxford, 1965).

“Việc Tử Ðạo của Perpetua và Felicity” trong Musirillo, các tr.113-115.

Chúng tôi hết sức chọn lựa; chúng tôi có thể sử dụng các vị tử đạo Anh thời Elizabeth hay Bắc Mỹ để làm nổi bật cùng một điểm.

Xem Donald J. Moore, “Chứng thư hiện đại của Franz Jagerstatter”, America, 30-10-1982, các tr. 247-250

“Việc Tử Ðạo của Thánh Polycarp” trong Musirillo, các tr.15-17.

T.S. Elliot, Tuyển Tập Thi Văn (New York, 1964) các tr. 192-193.

Tham Khảo và Dẫn Khởi

Nghiên cứu tốt nhất về các cuộc bách hại thời La Mã vẫn là cuốn Matyrdom and Persecution in the Early Church của W.H.C. Frend (Oxford, 1965). Cuốn Studies in Ancient Society của M.I. Finley có nhiều khảo luận tuyệt vời về căn bản pháp lý của việc bách hại Kitô hữu. Như bản văn chứng tỏ, có nhiều tài liệu đệ nhất đẳng rất hữu ích trong The Acts of the Christian Martyrs (Oxford, 1972).

Mối liên hệ giữa các tử đạo và sự xuất hiện việc sùng kính các thánh trong Ðạo Công giáo là một đề tài đáng chú ý. Nhiều chi tiết về thể tài này có thể tìm thấy trong The Meaning of Saints của Lawrence S. Cunningham (San Francisco, 1980) và cuốn The Cult of Saints của Peter Brown (Chicago, 1981). Cả hai sách đều có thư mục.

Tính anh hùng của các tử đạo là đề tài của nhiều sáng tác văn chương thích thú trong nhiều thế kỷ. Danh sách các tác phẩm nói về tử đạo không thể nào kể hết được. Ta có thể bắt đầu với những tác phẩm quen thuộc như Saint Joan của Bernard Shaw (1923) về Thánh Gioan thành Arc, Murder in the Cathedral của T.S. Elliot (1935) về việc tử đạo của Thánh Tôma à Becket. Những ai có khiếu âm nhạc, nên đọc nhạc kịch Dialogue of the Carmelites của Poulenc là nhạc kịch dựa trên công trình của George Bernanos phóng tác tiểu thuyết The Song of the Scafford của Gertrud von LeFort (1938), là tiêu thuyết nói về cái chết của các nữ tu dưới thời Cách Mạng Pháp.

Các tiểu thuyết gia hiện đại tỏ ra quan tâm ít nhiều tới các khía cạnh ít lãng mạn hơn của tử đạo. Ðối với hình ảnh “phản anh hùng” của các tử đạo, ta nên đọc tiều thuyết nay đã thành cổ điển của Graham Greene, The Power and the Glory (New York, 1940). Tiểu thuyết Silence của Shusaku Endo (Bản dịch tiếng Anh do William Johnston, New York, 1980) được dàn dựng trong thời kỳ các cuộc bách hại tại Nhật, và nói về một vị thừa sai chối đạo khi bị tra tấn.

Người Công giáo có thể đã quên rằng trong suốt lịch sử lâu dài của mình, họ từng bị người khác coi là bách hại các Kitô hữu khác. Về phương diện này, ta có thể đọc tác phẩm cổ điển của Tin Lành tựa là The Book of Martyrs (xuất bản lần đầu năm 1950) do John Foxe viết theo niên biểu các vụ bách hại “các thánh” do tay những người theo giáo hoàng. Foxe so sánh tác phẩm của mình với việc thu thập hạnh các thánh thời trung cổ dưới tiêu đề The Golden Legend.

Ðể thủ đắc một vài cảm nhận về những vụ bách hại tôn giáo thời nay, ta nên làm quen với Matchbox, một ấn hành đều đặn của Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) là cơ quan theo dõi những vụ đàn áp tôn giáo, xã hội, và chính trị trên khắp thế giới.The Buletin of Religion in Communist Dominated Areas ấn hành tại New York và theo dõi các cuộc bách hại Kitô hữu sau Bức Màn Sắt. Maryknoll Magazine thường xuyên có những bài về việc đàn áp Kitô hữu tại các nước thứ ba không cộng sản.

Ðể hiểu nghệ thuật ảnh tượng về tử đạo, ta nên nghiên cứu khá nhiều các bài hữu ích trên The New Catholic Encyclopedia hay các thăm dò thông thường hơn về lịch sử nghệ thuật. Việc nghiên cứu này có thể dẫn ta tới việc suy đóan xem nghệ thuật ảnh tượng về tử đạo ngày nay nên như thế nào. Trong khi theo đuổi công việc theo chiều hướng này, ta rất có thể tìm tòi về một vài vụ tử đạo gần đây như những vị chết dưới tay Quốc Xã trong Thế Chiến II: Maximilian Kolbe, Alfred Delp, Franz Jagerstatter, Edith Stein, hay nhà thần học Thệ Phản Dietrich Bonhoeffer mà cácLetters and Papers from Prison (ấn bản tiếng Anh: 1953) của ông ta cần nên đọc. Ðể lượng giá các vụ đàn áp Kitô hữu thời gần đây hơn, ta có thể tham khảo Witnesses of Hope: The Persecution of Christians in Latin America, do Martin Lange và Reinhold Iblacker chủ biên (Maryknoll, N.Y., 1981).






Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: