Acting by folk, if reached by God!

GIA TÀI CÔNG GIÁO

Dẫn Nhập

Cuốn sách này xuất hiện do một số các quan tâm, xác tín bản thân, và khá nhiều gặp gỡ trí thức.

Là một giáo sư tại một trường đạihọc lớn cấp tiểu bang, tôi thường được yêu cầu thuyết giảng về những chủ đề tổng quát liên quan đến Ðạo Công giáo. Một khóa giảng cho một lục cá nguyệt về một đề tài bao quát như “Ðạo Công giáo” chắc chắn gặp nhiều vấn đề liên quan đến cấu trúc, đến chủ điểm, và các bài đọc mà tôi từng đã cho ấn hành, không cần phải nhắc lại ở đây . Tuy nhiên vấn đề căn bản tôi gặp phải vẫn là vấn đề các sinh viên luôn thiếu cảm thức về viễn tượng lịch sử đối với nền văn hoá Phương Tây nói chung, và vai trò của Ðạo Công giáo trong việc hình thành ra nền văn hóa ấy nói riêng. Không những họ nhớ rất ít về phụng vụ Latinh (không do lỗi của họ), họ cũng biết mơ hồ khuôn mặt của Giáo Hội là như thế nào trước Công Ðồng Vatican II. Họ xác tín mạnh mẽ rằng điều đang xẩy ra lúc này mới là điều quan trọng, và “lúc này” quan hệ rất ít mà có khi chẳng có chút quan hệ nào đối với quá khứ. Họ có khuynh hướng nhìn sinh hoạt của giáohội như nhìn những khuôn hình trò chơi Video trên màn ảnh: sinh động, tức khắc và có thể nắm được như một toàn bộ. Trong khi đối với tôi, truyền thống, hay gia tài, Công giáo đúng hơn phải như bức tranh của Van Eyck hay như bài thơ của Yeats: cô đọng, biểu tượng, đa giá – chỉ nhìn ra đầy đủ ý nghĩa bằng khảo sát gần, suy tư, nhìn tới nhìn lui. Trò chơi Video đâu cần nhìn lui nhìn tới như thế.

Việc thiếu cảm thức về cấu trúc lịch sử của Giáo Hội ấy, đối với nhiều người, chắc chắn không dễ gì có thể cải thiện được qua sự lôi cuốn của khoa giáo sử cổ truyền, dù được dạy hay đến bao nhiêu đi nữa. Lịch sử, giống như rượu whiskey của Tô-cách-lan, vốn là một hương vị cần phải tập uống mới có được. Tuy nhiên, chúng tôi tin là có con đường ở giữa. Cuốn sách này cố gắng bước trên con đường ấy.

Xác tín căn bản trong công trình này là ta có thể khám phá ra, dù không đầy đủ, một vài nhấn mạnh trong việc sống truyền thống Phúc Âm từng tạo ra đặc tính hay ít nhất đem lại sắc mầu cho các thời đại khác nhau trong đời sống Giáo Hội. Vốn biết rõ tính chất võ đóan (arbitrary) trong việc phân định thời kỳ lịch sử cũng như hoài nghi phương thức dùng những nhân vật vĩ đại để kể chuyện lịch sử, chúng tôi vẫn tin rằng đặc điểm của Giáo Hội trước thời Constantinô chú mục vào các tử đạo theo một cách thức mà Giáo Hội thời Baroque không có, dù thời sau này vẫn có những vị chết cho đức tin. Rồi đến lúc thời kỳ tử đạo phải nhường bước cho các hình thức tử đạo “trắng” trong con người các vị ẩn tu sa mạc. Rồi lại có những thế hệ ẩn tu sau này, nhưng các thế hệ này luôn quay về với thế hệ đầu cũng như các thế hệ tử đạo về sau luôn luôn nhìn về thế hệ tử đạo đầu tiên để hiểu ý nghĩa tử đạo trong chính thế hệ mình. Cả ngày nay nữa, vẫn có những vị tử đạo và ẩn tu bước theo truyền thống ấy và làm cho các truyền thống ấy trở thành hiện thực trong đời sống giáohội. Cái biện chứng giữa quá khứ và hiện tại này là điều chúng tôi muốn theo đuổi trong các trang kế tiếp.

Bởi thế, tôi muốn có dịp phác hoạ một vài kiểu thức lý tưởng đã lên khuôn dáng cho các thời kỳ trong đời sống Giáo Hội ngõ hầu có thể nhấn mạnh đến các điểm sau: (a) Các kiểu thức này cho ta biết ít điều về nền văn hoá chúng sống; (b) cách người ta sống thực lòng trung trinh đối với Phúc Âm rất có liên quan đến nền văn hòa kia tuy không bị cột chặt vào nó; và (c), những kiểu thức này, dù đâm rễ vào một thời và một nơi nhất định, nhưng vẫn có chỗ đứng thường trực trong truyền thống Giáo Hội. Chúng được dùng như những mô thức cho các thế hệ tương lai, dù có thay đổi và giản lược.

Tại sao phải nhấn mạnh đến những điểm trên?

Trước nhất, chúng tôi xin mời các độc giả có thiện cảm nhớ cho rằng truyền thống Công giáo không phải là một mớ những ý niệm thả nổi khóa kín trong một kho chứa phi lịch sử dù ta có gọi cái kho chứa ấy bằng một cái tên đáng kính là Huấn Quyền. Truyền thống Công giáo là một lịch sử của những con người sống qua các thời đại với đầy đủ tư cách đặc thù của họ. Họ từng gặp gỡ đức Kitô và, trong những gặp gỡ ấy, đã cố gắng, bằng những bước đi chuệnh choạng, bắt chước Ngài và đóng gói ý nghĩa đời Ngài vào trong chính đời mình.

Thứ hai, việc bước chân theo đức Kitô này mở ra cho mọi chủng tộc, mọi giai cấp, mọi phái tính, và mọi kiểu người. Có thể nói rằng cuốn sách này nhấn mạnh đến các lối sống trong đó, hàng giáo phẩm và giáo dân, nam giới cũng như nữ giới, quí tộc cũng như nông dân đều có chỗ đứng. Cách chúng tôi nói không chú ý tới phẩm trật hay địa vị. Giáo Hội tất nhiên có phẩm trật; chúng tôi không tranh luận việc đó. Nhưng đối với mục tiêu của chúng tôi, giai tầng, cấp bậc, và vị thế xã hội không quan trọng bao nhiêu khi chúng ta đề cập đến việc theo chân Ðức Kitô và, nói theo thánh Phaolô, “tôi mắc nợ người Hy Lạp cũng như người man-di, người thông thái cũng như người thất học” (Rom 1:14).

Cuối cùng, việc hiểu biết truyền thống Công giáo sẽ giúp chúng ta nhìn rõ hơn mốt số sợi chỉ xuyên suốt liên tục trong truyền thống ấy. Chúng tôi có ý định chứng tỏ rằng các bậc anh thư và thánh nhân quá khứ chính là những mẫu mực của hiện tại. Các vị ẩn tu trong sa mạc Ai Cập ngày nay xem ra có vẻ kỳ dị và quá khích, nhưng cái vẻ kỳ dị ấy sẽ bớt đi khi ta nghiên cứu các vị ẩn tu thời bây giờ là những người từng phải vật lộn với những thứ quỉ dữ trong các sa mạc giả tạo của văn hóa dưới những cái tên đại loại như Bergen Belsen và Quần Ðảo Gulag hay tại những nơi như đồn cảnh sát chìm ở Châu Mỹ La tinh.

Công trình này được khai triển do những quan tâm lâu ngày của chúng tôi về các thánh, vốn được coi như những khuôn mặt gương mẫu trong lịch sử Ðạo Công giáo . Các quan tâm của chúng tôi đối với các khuôn mặt này ngày nay xem chừng càng được biện minh khi David Tracy khích lệ các nhà thần học nên suy tư về nền cổ điển trong truyền thống thần học. Trong nghiên cứu có tính lý thuyết tuyệt vời của ông tựa là Tưởng Tượng Loại Suy (The Analogical Imagination), Tracy cho rằng cổ điển nói đây không phải chỉ bao gồm các tác văn, mà còn gồm luôn các nghệ phẩm và các con người nữa. Theo lối nhìn ấy, nếu tôi hiểu đúng, thì Thánh Phanxicô Assisi cũng cổ điển như cuốn Pensées của Pascal. Cả hai đòi các quan tâm suy tư từ nền thần học giải thích (theological hermeneute). Như thế, David Tracy đã cung cấp cho ta một chiến lược để hiểu truyền thống Công giáo. Cuốn Kitô Giáo trong Lịch Sử Âu Châu (Christianity in European History)của William Clebsch giúp đem lại một mô thức mà chúng tôi mô phỏng trong sách này. Dù mục tiêu của chúng tôi có khác, sách của ông đã giúp chúng tôi rất nhiều.

Sách này tuy vậy chỉ là bước đầu, viết cho những người mới học lịch sử. Chúng tôi chỉ muốn chứng minh liên tục tính trong kinh nghiệm Công giáo. Chúng tôi muốn chuyển tới các độc giả có thiện cảm lòng tôn kính sâu xa của chúng tôi đối với truyền thống, là cái vốn ở phía sau, ở bên dưới, và, với một ý nghĩa thực sự, “ở đàng trước” kinh nghiệm Công giáo hiện nay của chúng ta. Chúng tôi ước ao các độc giả hiểu cho rằng tinh thần Phanxicô không phải là một di tích từ thời quá khứ nhưng là một cách thế hiện sinh thực sự cho những ai, giống như các Thợ Thuyền Công giáo, hằng ngày lo phục vụ những người tơi tả nhất và bất hạnh nhất trong xã hội ta, cũng như chúng tôi ước mong họ hiểu cho rằng các nhà thần học ngày nay đang phải vật lộn với những vấn đề tri thức cũng đặc sệt và khó nhá giống hệt các vấn đề Aquinas từng đương đầu trong thế kỷ 13 hay Pascal trong thế kỷ 17.

Hạn từ “Công giáo” sử dụng trong sách này hầu như luôn luôn đồng nghĩa với “Công giáo La Mã”, cũng giống như thỉnh thoảng chúng tôi có dùng từ “Kitô Hữu”, là từ chúng tôi muốn ám chỉ một Kitô hữu trong trruyền thống Công giáo La Mã. Chúng tôi xin lỗi những ai có một ý niệm rộng rãi hơn về Ðạo Công giáo, xin họ hiểu cho rằng chúng tôi có biết đến nghĩa rộng rãi đó và không hề ác cảm với nó. Việc chúng tôi có một chú tâm hẹp hơn về Ðạo Công giáo La Mã là do tuân theo phép khôn ngoan vốn dạy rằng ta chỉ nên viết về điều mình biết. Chúng tôi không hề sử dụng từ “Công giáo La Mã” theo nghĩa ghanh ghét, mà chỉ sử dụng chúng theo qui thức của ngôn ngữ thông thường. Phần lớn những điều chúng tôi nói, như sẽ rõ sau này, đều có thể áp dụng được đối với cả hai truyền thống Thệ Phản và Chính Thống (cả truyền thống Anh Giáo nữa), nhưng quả chúng tôi không đủ trang bị để có thể thực hiện những áp dụng ấy cách có thẩm quyền.

Công trình này cũng rất vắn so với điều nó muốn thực hiện. Vấn đề đau đầu nhất trong giai đoạn hoạch định là phải xác định đâu là điều không nên nói đến. Trong chiều hướng ấy, công trình này kể có hơi khác thường. Nhà phê bình nào cũng có lý khi chỉ trích chúng tôi đã bỏ điều này hoặc bỏ điều nọ. Chúng tôi chỉ dám biện hộ rằng – giống như các Thiền Sư thường nói – chúng tôi chỉ như ngón tay chỉ đường. Người ta không nên nhìn vào ngón tay, nhưng nên nhìn vào hướng ngón tay chỉ. Cuối mỗi chương, sẽ có một thư mục ngắn (gọi là Các Tham Khảo và Dẫn Khởi), gồm các cuốn sách và các bài báo từng khuôn định các suy tư của chúng tôi. Trong chính bản văn, chúng tôi cố gắng trích dẫn một cách lỏng lẻo với mục đích giúp các độc giả chăm chú hơn có thể theo dõi các vấn đề đang bàn.

Nếu sách này được dùng trong khung cảnh một lớp học, các vị phụ trách cần mở rộng điều chúng tôi chỉ bàn qua vì vội vã; khai triển điều chúng tôi chỉ mới gợi ý; triển khai điều chúng tôi không đề cập đến. Chúng tôi tin rằng sách này mở ra cả một loạt khả thể để nghiên cứu và thảo luận thêm. Không dám đưa ra kiểu lớp học của từng vị giảng dạy, nhưng duy vì mục đích sư phạm, chúng tôi xin phép gợi ra đây một vài khả thể đã xẩy ra với tôi mà tôi tin có thể có ích cho các vị giảng dạy khác:

(a) Trước nhất và trên hết, các mẫu người chúng tôi sử dụng có thể được mở rộng và nghiên cứu thêm. Tỷ dụ, chúng tôi chỉ đề cập qua đến các nhà truyền giáo mà không dành cho họ cả một chương sách để bàn kỹ. Nhiều mẫu người khác cũng thế.

(b) Mỗi một cố gắng bước chân theo Ðức Kitô trong cuộc sống thực sự, theo một nghĩa nào đó, đều đã “thay đổi” Ðức Kitô do áp lực văn hóa và bản thân trong cố gắng sống Phúc Âm của ta. Ðiều này tự nhiên sẽ dẫn ta đến việc thăm dò xem đối với các vị tử đạo, các nhà ẩn tu, các nhà huyền nhiệm , các nhà tranh đấu (activists) Ðức Kitô được họ “thay đổi” như thế nào…

(c) Tiếp nối (b) trên đây, ta có thể khai triển ra các kinh nguyện có thể phản ảnh các kiểu thức khác nhau đang được bàn tới trong bản văn, hoặc nghiên cứu các kinh nguyện hiện đã được viết ra hay từng sử dụng ở các thời đại trước. Lãnh vực ảnh tượng cũng là một lãnh vực phong phú để nghiên cứu. Tất cả chúng ta đều quen thuộc với nghệ thuật ảnh tượng cổ truyền về các thánh tử đạo (quá khóa, gông cùm…) nhưng ảnh tượng về các vị tranh đấu thì sao? Lấy đâu ra các dữ kiện về họ để vẽ tranh ảnh?

(d) Có một số đặc điểm trong truyền thống Công giáo giúp tạo ra nó như một truyền thống có thể phân biệt được với các truyền thống khác, như truyền thống Thệ Phản chẳng hạn. Các đặc điểm này có thể tìm thấy dấu vết qua các phát triển của chúng trong cuộc đời một số mẫu người. Ðâu là mối liên hệ giữa huyền nhiệm học và tính bí tích? Giữa cộng đoàn và công trình thần học? giữa thẩm quyền và người ngọai cuộc? Những câu hỏi như thế thật man vàn.

(e) Liệu có những mẫu người “mới” trong Giáo Hội hiện nay không theo mẫu cổ truyền vốn được bàn trong sách này- hoặc thay đổi tận gốc các mẫu mực này? Chúng tôi từng thảo luận những thay đổi trong việc đánh giá “người chiến sĩ Kitô giáo” (the Christian Warrior). Việc xuất hiện các nền thần học giải phóng (thế giới thứ ba, phong trào phụ nữ…) cho thấy các hình thức hiểu biết mới ngày nay đang được khai sinh. Những nền thần học “hậu hiện đại này” sẽ lên da thịt như thế nào là điều hiện nay chưa rõ. Nhưng rất có thể vấn đề hiện đang được tranh luận gay gắt về việc phụ nữ làm linh mục sẽ không được giải quyết bằng thách thức (contestation) hay bằng vâng lời mà nhờ những con người dám sống một lối nhìn mới về mục vụ bí tích.

(f) Như một bước kế tiếp (e), ta cũng nên chú ý tới việc xuất hiện những nền linh đạo hoàn cầu trong đó các nền thần học sử dụng những cái nhìn sâu sắc từ các tư tưởng gia như Teilhard de Chardin hay các thần học gia tu đức trong cuộc đối thoại liên tôn (như Tôma Merton, Bede Griffiths, William Johnston v.v.. ) là những người đưa ra một nền thần học vượt lên trên (nhưng luôn giao tiếp với) những giả định cổ truyền của Phương Tây. Các chiến lược để sống các cách nhìn này chưa có gì là rõ ràng cả mặc dù đã có nhiều phát biểu mạnh mẽ về một cách sống vượt ra ngoài truyền thống.

Những dẫn khởi như nói trên đây có thể được nhân thừa lên bao lâu trí tưởng tượng thần học còn cho phép. Chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này có thể đề nghị được nhiều khả thể như thế vì nó vốn không nhằm nói cho hết mà chỉ là gợi ý.

Chúng tôi từng suy tư về các ý niệm trên cả một thập niên qua. Chúng tôi vẫn còn mò mẫm đi tìm sáng tỏ. Cuốn sách ra đời vào thời điểm này như một thúc đẩy người khác vừa để tạo ra cuộc đối thoại không chính thức lẫn chính thức ngõ hầu nghiên cứu thêm. Ðến đây, chúng tôi xin cám ơn các đồng nghiệp của chúng tôi tại Khoa Tôn Giáo thuộc Trường Ðại Học Tiểu Bang Florida, đặc biệt vị chủ tịch Khoa, John Priest, đã giúp cho việc nghiên cứu của chúng tôi nên dễ dàng. Avery Dulles, S.J., Richard McBrien, và Keith Egan đã khích lệ chúng tôi theo đuổi ý tưởng này, nhưng dĩ nhiên, không chịu trách nhiệm về sản phẩm sau cùng. Cuộc hội thảo Nghiên Cứu Ðại Học về Tôn Giáo (San Francisco, 1981) dưới sự lãnh đạo của John và Denise Carmody đã cung cấp cho chúng tôi một diễn đàn để trình bày các ý niệm của mình. Ðối với các tham dự viên cuộc hội thảo ấy và những người viết cho chúng tôi sau này, chúng tôi xin có lời cám ơn. Sau cùng, chúng tôi xin cám ơn Werner Mark Linz, Richard Payne, và Frank Oveis thuộc Nhà Crossroad, Diane Weinstein, người đánh máy bản thảo, và John Carey, người đọc bản thảo đầu hết của sách này.

Trong khi sách này đang ở giai đoạn soạn thảo sơ khởi, con gái đầu, Sarah Mary, của tôi ra đời. Tôi không thể tưởng tượng còn sự khuây khỏa nào đáng chào đón và đẹp đẽ hơn thế. Sách này là để tặng cháu.

Ghi Chú:

Xem Lawrence S. Cunningham, “On Teaching Catholicism to Undergraduate” (Về việc Giảng dạy Ðạo Công giáo cho các sinh viên Ðại Học), Bulletin of the Council on the Study of Religion (Tạp Chí của Hội Ðồng Nghiên Cứu Tôn Giáo), Tháng Tư 1979, các trang 43-54, và “Recent Books on Catholicism” (Những Sách Mới Ðây về Ðạo Công giáo), Horizons (Hừng Ðông), Mùa Thu 1981, tr.340-346.

Lawrence S. Cunningham, The Meaning of Saints (Ý Nghĩa Các Thánh) (San Francisco, 1980).

Bài “The Christology of the Mystics” (Kitô học nơi các nhà Huyền Nhiệm) của George Tavard, trong Theological Studies ( Nghiên Cứu Thần Học), Tháng Mười Hai 1981, tr.561-579, là một mô thức tôi luôn có trong tâm trí.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: